TIN TỨC LỊCH SỬ

Thứ Hai, 15 tháng 5, 2017

30-4 Nhìn Lại: Trách Nhiệm Về Ai?





30-4 Nhìn Lại: Trách Nhiệm Về Ai?

09/05/201700:00:00(Xem: 2080)
  • Tác giả :
  • Vũ Linh

    Chẳng những đảng DC ép chính quyền Nixon/Ford phải tháo chạy mà còn..

    Nhân dịp 42 năm ngày đau buồn của đất nước, ta thử xem lại một góc cạnh của chuyện cũ.

    Trong lịch sử nhân loại, có lẽ chưa có cuộc chiến nào gây tranh cãi như cuộc chiến VN, từ nguyên nhân, đến diễn tiến, hậu quả,... Đọc cả trăm cuốn sách thì sẽ thấy cả trăm luận cứ, chẳng ai đồng ý với ai. Mà tranh cãi mạnh nhất dĩ nhiên là vấn đề trách nhiệm. Ai chịu trách nhiệm khơi mào, ai chịu trách nhiệm chấm dứt chiến tranh?

    Ở đây, ta chỉ nói từ phiá “ta”, tức là từ phiá VNCH và đồng minh thôi. Chứ dưới góc nhìn của CSVN thì mọi chuyện rõ như ban ngày: tất cả là lỗi “đế quốc Mỹ và đám tay sai ngụy quyền”, nói chuyện với đầu gối có ý nghiã hơn.

    Nói về khơi mào chiến tranh thì có vẻ quá bao quát. Ta đang nói về chiến tranh nào? Nhìn gần thì cuộc chiến bắt đầu tháng Chạp năm 1960 khi CSBV đẻ ra cái quái thai Mặt Trận Giải Phóng để thôn tính Miền Nam. Nhìn xa hơn một chút thì cuộc chiến bắt đầu tháng Chạp năm 1946 khi Pháp đánh Việt Minh (VM) tại Hải Phòng đưa đến cuộc chiến dành độc lập của VM. Hội nghị Geneve và vĩ tuyến 17 chỉ là cuộc hưu chiến ngắn. Nhìn xa hơn nữa thì phải nói cuộc chiến bắt đầu thời Phan Thanh Giản khi Pháp khởi quân chiếm VN, nẩy sinh ra các phong trào kháng chiến chống Pháp bằng vũ lực, liên tục cho đến thời Đề Thám, Phan Đình Phùng,... rồi các phong trào Việt Quốc, Việt Cách và Việt Minh.

    Thực tế lịch sử là cả ba khởi điểm trên đều khó tách riêng ra được. Nếu Pháp không xâm chiếm VN thì đã không có các cuộc kháng chiến, có thể đã không có phong trào VM, đã không có chia đôi đất nước, đã không có cuộc chiến 60, và đã không có ngày 30-4.

    Điều đáng suy gẫm là cho dù Pháp không đô hộ VN thì cũng chưa chắc là đã không có hiện tượng CSVN, và đã không có cuộc chiến quốc-cộng. Phong trào quốc tế CS với chủ trương sơn đỏ cả thế giới, chắc chắn đã không bỏ qua nước VN ta. Và nếu chúng đến VN, ai biết được phản ứng của dân VN đã như thế nào? Có sẵn sàng chấp nhận chế độ CS không hay cũng đã có một cuộc chiến huynh đệ tương tàn giữa phe CS và phe không chấp nhận CS?

    Bàn đến đây thì ta lại thấy lộ ra một vấn đề khác: cuộc chiến dai dẳng hiển nhiên là khởi đi từ tinh thần ái quốc dành độc lập, đã biến thể thành cuộc chiến ý thức hệ quốc-cộng. Như vậy thì biến thể từ lúc nào?

    Hồ bắt đầu ra tay bắt cóc và thủ tiêu các lãnh tụ Việt Quốc và Việt Cách cuối 1945, chỉ vài tháng sau khi chính phủ liên hiệp được thành lập. Nhưng khi đó hệ thống thông tin còn cực kỳ thô sơ, không có TV, báo chí, internet như ngày nay, trong khi VM ém nhẹm nên tuyệt đại đa số dân ta không hay biết gì về việc VM tráo trở. Cái gian ý của Hồ là dụ dỗ Chu Bá Phượng ở lại nội các để thiên hạ tưởng VNQDĐ vẫn hợp tác với VM. Do đó, khi Pháp đánh VM và VM hô hào tiêu thổ kháng chiến thì cả nước hưởng ứng ngay.

    Do đó, ta có thể nói cuộc chiến năm 46 khởi đi như là cuộc chiến dành độc lập, có khá nhiều người không CS tham gia để đánh Pháp. Cuộc chiến này chuyển hướng hẳn qua cuộc chiến quốc-cộng từ những năm 49-50, sau khi Mao chiếm được cả lục địa Trung Hoa, tràn qua VN, một mặt giúp Hồ đánh Pháp, mặt khác cũng giúp Hồ tung ra nhiều chính sách (cải cách ruộng đất, thuế má,...) nhằm cộng sản hoá những vùng do VM chiếm giữ khiến rất nhiều người không CS bỏ chiến khu, “về thành”, trong khi Pháp bắt đầu trả độc lập cho VN và tướng De Lattre thành lập quân đội quốc gia VN, từng bước trao quyền cho sĩ quan VN.

    Một cách tóm gọn, có thể nói trách nhiệm xa gây ra cuộc chiến tại VN chính là thực dân Pháp, trong khi trách nhiệm gần hơn là cộng sản quốc tế. Cả hai thế lực đều mang mộng thôn tính nước ta và gặp phải sự chống đối của dân ta, đưa đến chiến tranh triền miên trên đất nước ta.

    Có một cách khác để bàn về trách nhiệm: đó là nhìn lại những cơ hội tránh chiến tranh.

    VN đã có một cơ hội rất lớn có được độc lập và vẹn toàn lãnh thổ trong hòa bình ngay sau Thế Chiến II, khi TT Roosevelt đòi hỏi các cường quốc Âu Châu trao trả độc lập cho các thuộc địa.

    Ý kiến trên đáng tiếc thay đã không thành hình sau khi TT Roosevelt qua đời và khi tướng De Gaulle ngoan cố không chấp nhận nhả Đông Dương, ép TT Truman phải giúp Pháp trở lại Đông Dương, như cái giá phải trả để Pháp tham gia vào khối liên minh Mỹ-Tây Âu (NATO) chống sự bành trướng của CS Liên Xô tại Âu Châu. TT Truman đánh giá đồng minh với Âu Châu để cản CS Liên Xô quan trọng hơn độc lập của các thuộc địa. Mỹ quyết định giúp Pháp trở lại Đông Dương. Làm mất đi một cơ hội lớn để VN được độc lập và tránh chiến tranh.

    Dĩ nhiên nếu trường hợp đó xẩy ra thì khi đó, 1945-46, cũng là lúc VM với Hồ Chí Minh đang nắm quyền, và cả nước VN đã được “độc lập” dưới chế độ CS rồi, cho dù dưới danh nghiã chính phủ liên hiệp với sự hiện diện của Việt Cách, Việt Quốc, và vài nhân vật độc lập không đảng phái trong nội các. Câu hỏi là trong trường hợp đó, Hồ có cộng sản hoá VN không, có còn chấp nhận chính phủ liên hiệp không, và người quốc gia có tiếp tục chấp nhận Hồ không? Hay là sẽ có ngay nội chiến quốc-cộng? Nhìn vào việc Hồ thanh toán chính phủ liên hiệp cuối năm 45 thì câu trả lời quá rõ.

    Dù sao thì trách nhiệm của tướng De Gaulle cũng thật lớn khi ông nhất quyết không chịu nhả Đông Dương khi đó.

    Một cơ hội tránh chiến tranh, bảo toàn lãnh thổ, và đạt được độc lập nữa là trận chiến Điện Biên Phủ. Khi đó VM đánh ván bài xả láng, tung gần hết lực lượng ra để hạ Pháp ngay khi Hội Nghị Geneve đang diễn tiến để tìm giải pháp cho Đông Dương, với sự giúp đỡ mạnh của Mao. Khi VM đe dọa Điện Biên Phủ, Pháp đã yêu cầu Mỹ giúp, trải thảm bom tiêu diệt lực lượng CS khi đó đang tập trung quanh thung lũng Điện Biên, nhưng TT Eisenhower từ chối can dự nếu không có vài “đồng minh” tham gia cùng, chủ yếu là Anh Quốc. Nhưng Anh là bạn thực dân của Pháp, sợ Mỹ nhẩy vào sẽ diệt cả CS lẫn Pháp và tóm thâu VN vào ảnh hưởng của Mỹ, và vẫn bực mình vì bị Mỹ ép làm mất các thuộc điạ lớn như Ấn Độ, Miến Điện, và vài nước Phi Châu, không chịu can thiệp cùng với Mỹ.

    Việc Mỹ-Anh không can thiệp đưa đến chiến thắng cho VM tại Điện Biên Phủ rồi tại Geneve luôn, tặng cho CSVN cái tiếng chính danh đuổi được thực dân Pháp, ít nhất trên một nửa nước và củng cố sức mạnh của CSVN cho đến khi họ trở thành đối thủ tay đôi của Mỹ ít năm sau.

    Nếu như Mỹ nhẩy vào cuộc khi đó, biết đâu CSVN đã bị tiêu diệt ngay tại Điện Biên Phủ và giải pháp Bảo Đại với Quốc Gia VN đã trường tồn? Tức là VN đã được độc lập mà không có cuộc chiến quốc-cộng luôn.

    Trách nhiệm này phải nói là của chính TT Eisenhower, một ông tướng giỏi về quân sự, nhưng không có viễn kiến chính trị [trong Thế Chiến II, đã từng dừng quân sau khi vượt biên giới Pháp-Đức, nhường cho Liên Xô chiếm Ba Lan, Tiệp, Đông Đức và Bá Linh, đưa đến tình trạng CS hóa một nửa Âu Châu sau đó].

    Bây giờ ta nhìn qua giai đoạn cuối của cuộc chiến, ai chịu trách nhiệm để VNCH lọt vào tay CSBV?

    Cho đến nay, ngay cả trong khối người Việt tỵ nạn, đã có không ít người vẫn mạnh miệng tố cáo TT Nixon cùng với Ngoại Trưởng Kissinger, thông đồng bán đứng Nam VN cho Trung Cộng, để tập trung nỗ lực cứu Do Thái.

    Lập luận này chỉ là cái lý chạy tội của đảng Dân Chủ Mỹ, không hơn không kém, mà nhiều người vô tình hay cố tình đã chấp nhận và lập lại.

    Hiển nhiên là đảng DC lúc đầu rất hăng say trong lý tưởng bảo vệ tự do, dân chủ, nhân quyền, thích can thiệp vào chuyện thiên hạ, làm người hùng cứu nhân độ thế. TT Kennedy trong diễn văn nhậm chức để đời đã nói rất hùng hồn là nước Mỹ “sẽ trả bất cứ giá nào, chịu bất cứ gánh nặng nào, nhận bất cứ khó khăn nào, để hỗ trợ tất cả các nước bạn, chống lại tất cả kẻ thù, để bảo đảm sự sinh tồn và thành công của tự do”. Nổ lớn hơn kho đạn Biên Hòa.

    TT Johnson đã tiếp nối con đường đó sau khi TT Kennedy bị ám sát. Cho đến tháng Tám 1964, TT Johnson vẫn còn được hậu thuẫn rất mạnh khi nghị quyết Vịnh Bắc Việt, Tonkin Gulf Resolution, gần như khoán trắng cho TT Johnson đánh Bắc Việt, đã được biểu quyết với tỷ lệ phiếu 416-0 tại Hạ Viện và 88-2 tại Thượng Viện.

    Nhưng cái nhìn của dân Mỹ về chiến tranh VN bắt đầu chuyển hướng khi cuộc chiến kéo dài quá lâu vì những sai lầm và thất bại chính trị và quân sự của Mỹ, và khi các phong trào chống sự tham chiến của Mỹ nổi lên mạnh từ những năm 67-68. Dân Mỹ mất kiên nhẫn, kinh hãi trước những cảnh máu lửa chết chóc của chiến tranh được thấy trong mỗi bữa ăn gia đình trên TV, đau buồn khi nhìn thấy con số cả chục ngàn thanh niên về Mỹ trong quan tài phủ cờ, và hàng trăm ngàn thanh niên khác giải ngủ trong tình trạng què cụt trong khi viễn ảnh hoà bình mù tịt, cũng như bị lay chuyển bởi các xách động gọi là “phản chiến” của truyền thông và giới trí thức cấp tiến thiên tả, được cổ võ và điều khiển thẳng từ Mạc Tư Khoa và Hà Nội.

    Trong khi đảng CH còn cầm cự, muốn giúp VNCH thì đảng DC bắt đầu tháo chạy, khi trong cuộc bầu tổng thống năm 1968, các ứng viên “phản chiến” đe dọa nặng nề TT Johnson, đến độ ông phải bỏ cuộc, không ra tranh cử nữa. Phe “phản chiến” thất bại, cựu PTT Nixon vào Tòa Bạch Ốc, nhưng đảng DC chiếm đa số tại cả Thượng Viện lẫn Hạ Viện, với sự đắc cử của hàng loạt dân biểu và nghị sĩ “phản chiến”.

    TT Nixon thuộc loại diều hâu, nhưng bị áp lực nặng phải rút ra khỏi Nam VN. Dù vậy, ông không chấp nhận rút ra theo kiểu phe DC đòi hỏi, tức là rút ra chỉ với một điều kiện duy nhất là mang các tù binh Mỹ về nước, còn số phận Nam VN ra sao thì tuyệt đối không thắc mắc.

    Trong suốt thời gian nắm quyền, ông đã gặp phải chống đối tuyệt đối của phe đối lập DC và TTDC thiên tả suốt ngày bôi bác miền Nam và ca tụng VC, chưa kể hàng vạn người xuống đường biểu tình liên tục cả mấy năm trời. Chỉ trong nhiệm kỳ đầu, TT Nixon đã bị Hạ Viện DC biểu quyết hơn 80 lần, trung bình 3 tuần một lần trong suốt bốn năm, đòi Mỹ chấm dứt can dự vào cuộc chiến.

    Tháng Chạp 1969, Thượng Viện DC thông qua luật Church-Cooper cấm triệt mọi hoạt động quân sự trên lãnh thổ Lào. Đường mòn Hồ Chí Minh được các nghị sĩ DC Mỹ bảo đảm an toàn tuyệt đối. Trong chiến dịch Lam Sơn 719 năm 1971, khi CSBV phản công với ít nhất 5 sư đoàn [binh đoàn 70, sư đoàn 304, 308, 320, và 2], trọng pháo và thiết giáp, chống lại vài tiểu đoàn dù VNCH bảo vệ cuộc triệt thoái về nước, quân Mỹ án binh bất động bên này biên giới, chỉ hỗ trợ pháo binh lai rai vì bị trói tay bởi luật Church-Cooper. Năm 1974, VNCH bất lực nhìn CSBV chuyển quân và súng đạn ào ạt vào Nam VN qua đường mòn HCM. TT Nixon muốn đánh bom, nhưng bị vướng xình lầy Watergate, không đủ hậu thuẫn chính trị để vượt qua luật Church-Cooper. “Đương mòn” đã thành xa lộ nhờ các nghị sĩ DC Mỹ.

    Tháng 6, 1970, Thượng Viện DC thông qua một tu chính Church-Cooper cấm chính quyền Nixon không được chi một đồng nào cho cuộc chiến tại Căm-Pu-Chia, cấm đánh bom xứ này luôn. Đến phiên các mật khu VC trên đất Căm-Pu-Chia được Thượng Viện DC Mỹ bảo đảm an toàn tuyệt đối. VC di chuyển bộ tư lệnh từ “R” qua Căm–Pu-Chia.

    Năm 1972, vẫn nghị sĩ DC Frank Church ra dự luật cấm mọi chi tiêu liên quan đến chiến tranh tại cả vùng Đông Nam Á, ngoại trừ trong mục đích rút quân. Nhưng may mắn cho VNCH, quốc hội không đạt được đồng thuận, nên dự luật này không thi hành được.

    Một năm sau, 1973, lấy cớ Hiệp Định Paris đã ký, cũng TNS Church lại cho thông qua luật mới xác nhận cắt hết mọi viện trợ quân sự cho Đông Nam Á. Lần này được Hạ Viện DC thông qua luôn. Và được thi hành. Cũng năm 1973, quốc hội thông qua War Power Act, Quyền Tham Chiến, bắt tổng thống phải xin phép quốc hội nếu tham gia bất cứ cuộc chiến nào quá ba tháng.

    Ông Frank Church, nghị sĩ DC của Idaho, là người có trách nhiệm lớn nhất trong việc giết Nam VN.

    Tháng Ba năm 1975, khi VC bắt đầu ào ào đổ quân dọc miền Trung, tiến về Sàigòn, quốc hội DC bác đơn của TT Ford xin tháo khoán khẩn cấp 700 triệu viện trợ quân sự đã được phê chuẩn từ lâu nhưng chưa xuất quỹ. Tháng Tư năm đó, khi VC gõ cửa Sàigòn, quốc hội DC cũng bác luôn đơn xin viện trợ khẩn cấp 300 triệu để tăng cường bảo vệ thủ đô.

    Nhìn vào diễn tiến trên, với các nỗ lực không ngừng nghỉ của khối dân cử DC để ép từ TT Johnson đến TT Nixon rồi TT Ford phải chấm dứt sự can dự của Mỹ vào cuộc chiến tại Nam VN bằng cách cắt tiền, ra luật cấm đoán đủ chuyện, làm sao có thể nói TT Nixon là người chịu trách nhiệm về việc mất VNCH? Điều ngạc nhiên đáng nói là việc ông đã cầm cự dai dẳng được 4 năm, vớt vát đến cùng, trước khi ký Hiệp Định Paris.

    Trên phương diện ngoại giao, sách lược của ông là làm sao tạo được chia rẽ trong khối CS quốc tế giữa Liên Xô và Trung Cộng, để giảm hậu thuẫn của họ đối với CSBV, hậu thuẫn tinh thần cũng như tiền bạc và súng đạn, rồi đích thân ông đi nói chuyện trực tiếp với cả hai đối thủ để tìm giải pháp cho cuộc chiến.

    Có nghiã là những nỗ lực của Kissinger-Nixon khi móc nối với Mạc Tư Khoa và nhất là Bắc Kinh, phải nói là để tìm cách vớt vát, gỡ gạc được bao nhiêu hay bấy nhiêu trước áp lực của khối phản chiến và quốc hội DC, chứ không phải là chuyện đi đêm để bán đứng Nam VN cho TC.

    Khi VNCH rơi vào tay CSBV, hàng triệu người dân miền Nam bỏ phiếu bằng chân trốn chạy CS, cản trở và gây rối loạn các cuộc điều quân của các tướng Phú và Trưởng, trong khi VC thẳng tay bắn đại bác vào cả dân lẫn quân ta, đưa đến hàng trăm ngàn người chết trong các cuộc trốn chạy quân CSBV từ Cao Nguyên và miền Trung. Ta thua. Sau 30-4, hàng trăm ngàn người bị đi tù cải tạo, hàng trăm ngàn người khác chết trên Biển Đông. Phe cấp tiến DC và TTDC trắng mắt, tìm cách chạy tội, thả lập luận Nixon bán đứng miền Nam cho TC. Thực tế là cánh cấp tiến thiên tả trong đảng DC đã tập trung mọi nỗ lực chống phá việc Mỹ tham chiến ngay từ những năm TT Johnson vừa đổ quân vào miền Nam, 1964-65. Tất cả những tiếng nói chống đối ồn ào nhất như vợ chồng Jane Fonda/Tom Hayden, hay Frank Church, hay Robert Kennedy, Eugene McCarthy, và sau đó George McGovern,... đều thuộc đảng DC hết.

    Ngay cả đến khi VC đe dọa chiếm hết miền Nam, khối DC cũng vẫn là khối chống đối mọi biện pháp cứu nguy, thà chống mắt nhìn Miền Nam rơi vào tay CSBV chứ không chịu chi thêm một xu viện trợ quân sự khẩn cấp do TT Ford xin. Ngay cả việc nhận những người Việt nạn nhân CS vào tỵ nạn khi đó cũng bị khối DC chống, trong đó nổi bật nhất có TNS Biden, TNS Kerry, thống đốc Brown, tất cả đều thuộc đảng DC hết.

    Công bằng mà nói, để mất nước là trách nhiệm của chính chúng ta trước tiên, trước khi chúng ta xỉa tay đổ thừa người khác. Ta thua vì lãnh đạo dở, lệ thuộc quá nhiều vào viện trợ Mỹ, vì hậu phương thiếu đoàn kết, vì chính sách “dân chủ” nửa chừng xuân dung túng cho những phá rối của đám chính khách thời cơ lực lượng cẳng giữa, hay đám nhạc sĩ, sinh viên phản chiến ngây ngô, linh mục và sư sãi ôm mộng hão làm giáo chủ,... Tất cả chỉ khiến cho sự hy sinh của người lính Cộng Hòa trở thành công dã tràng.

    Hồ sơ VN còn quá nhiều bí ẩn chưa giải toả hết mà cũng có thể không bao giờ có câu trả lời cuối cùng. Nhưng nhìn vào những diễn biến trên, trách nhiệm của khối cấp tiến DC không thể chối cãi. Chẳng những đảng DC ép chính quyền Nixon/Ford phải tháo chạy mà còn không cho chúng ta cơ hội chống đỡ khi cắt hết tiền bạc và súng đạn để có thể tiếp tục cuộc chiến, rồi còn muốn đóng cửa không cho chúng ta vào tỵ nạn.

    TT Nixon đã từng thẳng tay thả bom Bắc Việt, tung quân qua đánh mật khu VC bên Căm-Pu-Chia, bí mật thả bom xứ này mấy tháng ròng rã mà cả VC lẫn Sihanouk đều không dám lên tiếng phản đối vì há họng mắc quai. Nếu không bị quốc hội DC khoá tay, ai biết được ông sẽ đi xa tới đâu. Đổ bộ Vinh hay Hải Phòng?

    Các ông Nguyễn Tiến Hưng và Hoàng Đức Nhã đã nhiều lần kết án Kissinger và Nixon đã ma-nớp đủ kiểu kể cả áp lực và lừa gạt TT Thiệu để rút ra khỏi Nam VN, không sai. Nhưng có lẽ họ ở trong cuộc quá gần, quan hệ trực tiếp với Kissinger và Nixon quá nhiều, chỉ nhìn thấy hai ông này mà không nhìn thấy cả quốc hội và phong trào “phản chiến” bên Mỹ, nên không đánh giá đúng mức áp lực trên đầu TT Nixon. Theo ông Nhã, TT Thiệu trách TT Nixon không giữ lời hứa sẽ cứu VNCH, chỉ chứng tỏ lãnh đạo VNCH quả không hiểu gì hay không muốn hiểu chính trị Mỹ, nhất là sau gần cả trăm biểu quyết của quốc hội và sau vụ Watergate.

    CSVN huyênh hoang đấm ngực khoe công, thật ra chỉ thắng nhờ... ù lỳ, coi rẻ mạng sống dân và bộ đội, chết bao nhiêu cũng bất cần để đám lãnh đạo chiếm quyền. Tướng Westmoreland đã từng nói, trong quân đội Mỹ, nướng quân như Giáp thì ông ta chưa lên được đại úy đã bị ra toà án quân sự rồi.

    Từ phiá Mỹ, truyền thông mỵ dân, trí thức cấp tiến thiên tả, đảng DC yếu đuối, đó chính là những thành phần chịu trách nhiệm lớn nhất cho cơn ác mộng 30 tháng 4 của chúng ta. (07-05-17)

    Vũ Linh
    Người đăng: Ng duc Phan vào lúc 17:04 Không có nhận xét nào:
    Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest

    Thứ Bảy, 6 tháng 5, 2017

    06/05/1972: Việt Nam Cộng Hòa giữ được An Lộc - Tướng Lê Văn Hưng, Người Hùng An Lộc.


     06/05/1972: Việt Nam Cộng Hòa giữ được An Lộc - Tướng Lê Văn Hưng, Người Hùng An Lộc.



    06/05/1972


      Việt Nam Cộng Hòa giữ được An Lộc.
     
    Hinh anh khung khiep ve tran An Loc 1972 (2)
    Một ngôi nhà từng được sử dụng làm vị trí chiến đấu trong trận An Lộc. Loạt ảnh do Phóng viên người Pháp Bruno Barbey của hãng Thông tấn Magnum thực hiện. Ảnh: Magnumphotos.com.




    Hinh anh khung khiep ve tran An Loc 1972 (2)-Hinh-5
    Xác xe tăng T-54 ở An Lộc.




    Hinh anh khung khiep ve tran An Loc 1972 (2)-Hinh-6




     
    Hinh anh khung khiep ve tran An Loc 1972 (2)-Hinh-3
    Binh sĩ Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa  trên một chuyến trực thăng di tản thương binh khỏi An Lộc.




    Hinh anh khung khiep ve tran An Loc 1972 (2)-Hinh-7
    Hố bom lớn bên một ngôi nhà ở An Lộc.




    Hinh anh khung khiep ve tran An Loc 1972 (2)-Hinh-8
    Cảnh đổ nát ở An Lộc trong cuộc chiến.




    Hinh anh khung khiep ve tran An Loc 1972 (2)-Hinh-9
     
    Hinh anh khung khiep ve tran An Loc 1972 (2)-Hinh-10
     
    Hinh anh khung khiep ve tran An Loc 1972 (2)-Hinh-11
     
    Hinh anh khung khiep ve tran An Loc 1972 (2)-Hinh-13
    Một thi thể mang dép râu trong đống đổ nát của thị xã An Lộc.




    Hinh anh khung khiep ve tran An Loc 1972 (2)-Hinh-14
    Một hài cốt ven đường.




    Hinh anh khung khiep ve tran An Loc 1972 (2)-Hinh-15
    Người dân An Lộc quay về nhà tan tành sau khi giao tranh kết thúc.




    Hinh anh khung khiep ve tran An Loc 1972 (2)-Hinh-16
    Một đám tang ở An Lộc sau cuộc chiến.




    Hinh anh khung khiep ve tran An Loc 1972 (2)-Hinh-17
    Các Phóng viên, Nhà báo đáp máy bay đến An Lộc ghi nhận tình hình chiến sự.




     

    Nguồn: South Vietnamese defenders hold on to An Loc, History.com
     
     
     
    Vào ngày này năm 1972, những thành phần còn sót lại của Sư đoàn 5 Việt Nam Cộng Hòa tại An Lộc, vẫn liên tục bị bắn đại bác từ pháo binh của lực lượng cộng sản xung quanh thành phố, trong khi quân tiếp viện đang từ Quốc lộ 13 chuyển tới.
    Lực lượng miền Nam đã bị tấn công nặng nề kể từ khi Bắc Việt bắt đầu Chiến dịch Nguyễn Huệ vào ngày 30/03. Cộng sản đã mở một đợt tấn công lớn vào miền Nam, bằng 14 Sư đoàn bộ binh, và 26 Trung đoàn riêng biệt, với hơn 120.000 lính, và khoảng 1.200 xe tăng, cùng các phương tiện thiết giáp khác. Các mục tiêu chính của Bắc Việt, ngoài An Lộc ở phía Nam, là Quảng Trị ở phía Bắc, và Kontum ở Tây Nguyên.
    Ngày 05/04, tại tỉnh Bình Long, lực lượng miền Bắc đi từ Campuchia tiến vào miền Nam, và tấn công đầu tiên vào Lộc Ninh. Sau khi chiếm được Lộc Ninh, Bắc Việt nhanh chóng bao vây An Lộc, thủ phủ Bình Long, chỉ cách Sài Gòn 65 dặm. Họ đã bao vây An Lộc gần ba tháng, và nhiều lần cố gắng chiếm thành phố, bắn phá suốt ngày đêm.
    Lực lượng phòng vệ của miền Nam đã phải hứng chịu thiệt hại nặng nề, với 2.300 người chết hoặc mất tích, nhưng nhờ sự trợ giúp của các Cố vấn và lực lượng Không quân Mỹ, họ đã chống chọi được mọi trở ngại cho đến khi vòng vây bị phá vào ngày 18/06. Các trận chiến tiếp diễn trên khắp miền Nam trong suốt những tháng mùa hè, nhưng cuối cùng lực lượng miền Nam cũng chiếm được ưu thế, và giành lại được Quảng Trị vào tháng 09.
    Khi cuộc xâm nhập của cộng sản thất bại, Tổng thống Nixon đã tuyên bố chiến thắng của Nam Việt Nam đã chứng minh được khả năng của chương trình Việt Nam hóa Chiến tranh, mà ông đã khởi xướng năm 1969, nhằm tăng cường khả năng chiến đấu của các lực lượng vũ trang Việt Nam Cộng Hòa.
     
    Mời đọc thêm:
     
    Tướng Lê Văn Hưng, Người Hùng An Lộc:
     
     

    Tướng Lê Văn Hưng đảm nhiệm chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh, khi còn mang cấp bậc Đại Tá. Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972, ông được giao nhiệm vụ Tổng chỉ huy mặt trận An Lộc, ông giữ vững thị xã An Lộc, và đã đẩy lui quân cộng sản Bắc Việt sau hai tháng tử chiến tại mặt trận này.
    Ngày 30 tháng 4 năm 1975, sau khi Tổng thống Dương Văn Minh ra lệnh cho quân dân Việt Nam Cộng Hòa buông súng, ông ra lệnh cho thuộc cấp tan hàng, sau đó quay vào văn phòng rút súng bắn vào đầu tự sát đền nợ nước.
    Trong tiết mục Danh nhân nước Việt, chúng tôi xin gửi đến quý thính giả bài "Tướng Lê Văn Hưng, Người Hùng An Lộc" của Việt Thái qua giọng đọc của Hoài Phương, và Nam Hương, để kết thúc chương trình tối hôm nay.
     
    Khí tiết Lê Văn Hưng đã thăng hoa giữa chiến trường Bình Long và hoa Anh Hùng Lê Văn Hưng đã nở đẹp tại phòng tuyến An Lộc. Và rồi hấp hối theo vận nước, phút cuối Lê Tướng Quân đã chọn cái chết bi hùng để trở thành bất tử trong lịch sử, và quân sử Việt Nam.
    Với dụng ý vinh danh và tưởng niệm Tướng Lê Văn Hưng, nơi trang cuối của tác phẩm "Last Man Out", Tác giả James E Parker, đã xếp bài thơ không tựa, không tên Tác giả với câu thơ chấm dứt: I am not there. I did not die.
    Và sau chót, một câu lập ngôn được xem như quân huấn của Danh Tướng Douglas MacArthur: "Duty, Honor, Country” !.
    ***
    Tướng Lê Văn Hưng xuất thân Khóa 5 Sĩ quan Trừ bị Thủ Ðức, mãn khóa vào tháng 1 năm 1955. Sau ngày ra trường, ông thuyên chuyển về miền Tây giữ các chức vụ chỉ huy từ cấp Đại đội, Tiểu đoàn (TĐ), Trung đoàn (TrĐ) thuộc Sư đoàn 21 Bộ Binh.
    -Năm 1966, mang cấp bậc Thiếu tá, ông làm Tiểu đoàn trưởng TĐ2, TrĐ31, SĐ21BB. Cũng trong năm 1966, ông được các Phóng viên chiến trường vinh danh là một trong Ngũ hổ U Minh Thượng, cùng với 4 Sĩ quan khác là: Thiếu tá Lưu Trọng Kiệt, Tiểu đoàn trưởng TĐ42 BÐQ. Thiếu tá Nguyễn Văn Huy, Tiểu đoàn trưởng TĐ44BÐQ. Ðại úy Vương Văn Trổ, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3, TrĐ33, SĐ21BB. Ðại úy Hồ Ngọc Cẩn, Tiểu đoàn trưởng TĐ 1, TrĐ33, SĐ21BB.
    -Năm 1968, ông làm Trung đoàn trưởng TrĐ 31, SĐ21BB. Ông đã lập nhiều chiến tích tại chiến trường Hậu Giang, nên được thăng cấp Đại tá.
    -Tháng 6/1971, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Tư lệnh SĐ5BB, khi còn mang cấp Đại tá.
    -Năm 1972, ông được thăng cấp Chuẩn tướng, vẫn làm Tư lệnh SĐ5BB đến ngày 3/9/1972, và sau đó giữ chức vụ Tư lệnh phó Quân đoàn III.
    -Năm 1973, ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn 21 BB, cuối tháng 10/1974, ông đảm nhận chức vụ Tư lệnh phó Quân đoàn IV, Quân khu 4.
    Tối ngày 30/4/1975, tại Bộ Tư lệnh Quân đoàn, sau khi nói lời từ giã với gia đình và bắt tay từ biệt thuộc cấp, Tướng Hưng đã quay vào văn phòng, khóa chặt cửa, và tự sát bằng súng lục, vào lúc 8 giờ 45 phút tối.
    ***
    Tác giả James E Parker, đã kể lại cái chết bi tráng, thương cảm của Tướng Lê Văn Hưng như sau:
    "Ngày 30 tháng 4 năm 1975, đúng 7 giờ tối, Tướng Hưng, đã nhắn gọi vợ ông đến văn phòng làm việc tại Cần Thơ, ông không hề nghĩ tới việc diện kiến và thảo luận với một giới chức Việt Cộng tên Hoàng Văn Thạch, để bàn giao vùng Hậu Giang cho Cộng Sản. Ông không bỏ nước để thoát thân. Ông có trách nhiệm với những quân nhân đã dành mạng sống của họ ở lại vị trí trấn thủ. Ông đã ở lại bằng một lựa chọn vinh dự. Ông phải tự quyết định sinh mạng của mình.
    Khi người vợ và các con bước vô văn phòng làm việc của ông, Tướng Hưng nói lời chia tay, và cúi xuống hôn từng đứa con. Bên ngoài văn phòng, nhiều Sĩ quan và binh lính thuộc cấp lần lượt kéo tới, đứng sắp hàng ngoài sân, chờ đợi lệnh.
    Tướng Hưng tuyên bố việc chiến đấu đã chấm dứt. Ông nói, nước đã mất là do Lãnh đạo kém tại Sài Gòn, và xin thuộc cấp tha thứ lỗi của ông, nếu như cá nhân ông đã có những lỗi lầm nào đó !.
    Bầu không khí xung quanh nặng nề. "Tôi chấp nhận cái chết. Vĩnh biệt các anh em !", Tướng Hưng nói dứt câu đưa tay lên chào, và bắt tay từng người một. Ông yêu cầu mọi người ra về và chỉ một mình bước vô văn phòng làm việc. Chỉ trong khoảnh khắc sau đó vang lên một tiếng súng nổ. Tướng Hưng đã tự sát bằng súng” !.
    ***
    Tướng Lê Văn Hưng đã cùng với quân sĩ các cấp giữ vững phòng tuyến tỉnh lỵ Bình Long. Trong những giờ phút căng thẳng nhất của cuộc chiến, ông đã nêu gương sáng cho các Sĩ quan thuộc quyền về phong cách chỉ huy. Trong cuộc phỏng vấn, thay vì nói về mình, Tướng Hưng chỉ đề cao tinh thần chiến đấu của chiến sĩ thuộc các Quân binh chủng đã giữ vững An Lộc, và tình cảnh bi đát của mấy chục ngàn đồng bào kẹt giữa vùng lửa đạn Bình Long. Trước khi vĩnh biệt, ông nhận lãnh trách nhiệm trước lịch sử và dân tộc, ông nói: "Tôi bằng lòng chọn cái chết. Tướng mà không giữ được Nước, không bảo vệ được Thành, thì phải chết theo Thành” !.
    Đúng 40 năm sau ngày 30/4/1975, không chỉ có các thế hệ lớn lên ở Việt Nam, mà cả dân chúng nước Mỹ cũng đau lòng khi biết được những giờ phút lẫm liệt vào cuối đời của Tướng Lê Văn Hưng. Một điều rõ ràng nhất là ông hiểu rất tường tận bọn cộng sản, nên chọn cái chết chứ không muốn bị lăng nhục như Dương Văn Minh, khi bị một Đại tá cộng sản ra lệnh đầu hàng tại Dinh Độc Lập.
    Khi viết cuốn sách "Last Man Out – A Personal Account of the Vietnam War", Tác giả James E Parker Jr. chắc chắn sẽ ngậm ngùi nhớ lại dấu mốc lịch sử khi Tướng Robert Edward Lee, trao thanh gươm biểu tượng cho sự đầu hàng của Nam quân cho Tướng Ulysses S. Grant của Bắc quân để chấm dứt cuộc nội chiến Nam - Bắc Mỹ. Sau khi nhận thanh gươm, Tướng Grant đã nói một câu bất hủ, để xóa đi mặc cảm thất trận của Tướng Lee: "Đây không phải là sự thắng bại gì cả. Đây là niềm ô nhục trong lịch sử Hoa Kỳ !".
    Chính nhờ câu nói đó, mà Tướng Lee không chết vì uất hận, trái lại đã cổ xúy mạnh mẽ cho việc hòa hợp giữa hai miền sau chiến tranh. Nhưng đất nước Việt Nam không có được sự may mắn đó, 40 năm trôi qua, người cộng sản vẫn tiếp tục gây thêm phân hóa và hận thù trong lòng dân tộc khi ra rả xưng tụng cái gọi là "Đại thắng Mùa xuân 1975” !.
    Nhưng càng rầm rộ, thì càng khiến cho người dân Việt Nam biết đến những Võ tướng hiển hách của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, trong đó có Tướng Lê Văn Hưng, Người Hùng An Lộc !
     
    Việt Thái.  ./.
    Người đăng: Ng duc Phan vào lúc 11:08 Không có nhận xét nào:
    Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest

    Ngược đãi sau 30/4 là bi kịch lịch sử



    Ngược đãi sau 30/4 là bi kịch lịch sử


    Hình ảnh người thương phế binh VNCH không được hưởng bất cứ quyền lợi gì.
    Cụ ăn mày Thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa Bùi Văn Thiệt, SQ 67/101890 TĐ3/TrĐ7/SD5BB KBC 4.737
    RFA files photos





    Đánh dấu 40 năm chiến tranh Việt Nam kết thúc, một vấn đề lại được đem ra mổ xẻ, đó là có hay không câu chuyện phân biệt đối xử ngược đãi quân dân cán chính VNCH sau khi miền Bắc thống nhất đất nước và đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam.

    Công dân hạng hai trên đất nước mình

    Sau khi chiến tranh Quốc-Cộng kết thúc vào ngày 30/4/1975, quân dân cán chính của chế độ VNCH chịu nhiều thống khổ và bị phân biệt đối xử. Tình trạng này chỉ được cải thiện vào cuối thập niên 1980 khi Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tiến hành đổi mới.

    Theo nhà báo Lê Phú Khải, nguyên thường trú Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV) tại Đồng bằng sông Cửu Long thì dùng các từ “ngược đãi” “phân biệt đối xử” là chưa chuẩn xác, vì thực tế nó ghê gớm và kinh khủng hơn thế rất nhiều. Từ Saigon ông Lê Phú Khải nhận định:

    “ Đây là một đường lối sai lầm làm cho nhiều người khốn khổ, thậm chí có những người phải sống dở chết dở thì đây là bi kịch chứ không phải là ngược đãi, nó là bi kịch của cả một đất nước.”

    Trong khoảng một thập niên kể từ ngày 30/4/1975, nếu nói quân dân cán chính VNCH và gia đình của họ trở thành công dân hạng hai ngay trên đất nước mình thì cũng có nhiều phần đúng. Bởi vì chính sách của Đảng Cộng sản đã thay đổi tận gốc nền tảng xã hội ở Nam Việt Nam, quyền tư hữu đất đai không còn, các đợt cải tạo công thương nghiệp tư doanh đã quốc hữu hóa đồng loạt khối doanh nghiệp tư nhân dù là doanh nghiệp lớn hay nhỏ. Ngoài ra rất nhiều tài sản và nhà ở của sĩ quan cao cấp, viên chức VNCH bị tịch thu với những lý do mơ hồ như có nợ máu với nhân dân, hoặc bị chụp mũ là tư sản.

    Những sai lầm chết người

    Ông lê Phú Khải nhận thức từ hiểu biết qua công tác nhà báo của mình, ngay trong những năm đầu khi Miền Nam khởi sự được nếm mùi xã hội chủ nghĩa. Ông nói:

    “ Ngoài Hà Nội tôi đã chứng kiến rồi, chứ trong Nam đương nhiên là như thế, người ta nóng vội đi lên chủ nghĩa xã hội không tưởng, cái chủ nghĩa xã hội mà ông Nguyễn Phú Trọng nói là đến cuối thế kỷ này chưa chắc đã hình thành đấy. Người ta muốn đi lên thì người ta phải cải tạo, đó là một sai lầm chết người cho nên bao nhiêu là chủ xưởng, chủ nhà máy là những người lao động giỏi, của cải của họ bị tich thu hết, công tư hợp doanh hết, đi vào làm ăn đưa cho những người không biết quản lý lên quản lý thì nó đã làm tan nát hết nền kinh tế từ năm 1975-1976 cho tới đại hội Đảng lần thứ 6 năm 1986, sau đó là đổ mới thì mới bắt đầu có khá lên được.”





    Ngay cả những người đã mất cũng bị kỳ thị. 
    Nghĩa trang quân đội Biên Hòa bị bỏ hoang mộ bia bị đập phá... 
    Files photos

    Nhà báo Lê Phú Khải qua thời gian làm phóng viên, rồi thường trú Đài Tiếng nói VOV ở Đồng bằng sông Cửu Long, nhớ lại một thời kỳ đảo điên ở miền Nam Việt Nam sau khi đất nước thống nhất. Ông nói:

    “ Tôi chứng kiến nhiều lắm, ví dụ một ông chủ tiệm giày bị đuổi đi khai hoang ở Tây Ninh, nhưng khi ông thấy “đổi mới” cán bộ bắt đầu đi giày rồi, bắt đầu nhảy đầm rồi thì ông ấy kéo cả gia đình về; bây giờ ông lại có tiệm giày. Hay là ông chủ ô tô chẳng hạn, ông ấy bảo tôi có chiếc xe chở khách họ biến thành công tư hợp doanh, tôi biết công tư hợp doanh sau này dứt khoát sẽ phải trả lại tôi. Vì sao, ông ấy bảo họ đến lấy cái ô tô nhưng phụ tùng chả ông nào lấy, tôi để phụ tùng dưới gầm giường. Tôi biết mấy ông này ở nhà quê ra chẳng biết gì về ô tô, ô tô cũ phải có phụ tùng để sửa chữa. Y rằng sau này phải trả lại ô tô cho chủ cũ. Như vậy nói là ngược đãi là chưa đúng phải nói là đường lối sai lầm dẫn đến những bi kịch, những thảm họa của đất nước.”

    Mặc dù hệ thống tuyên truyền của Nhà nước Việt Nam cố gắng viết lại lịch sử theo quan điểm chính trị chứ không phải những sự thật đã xảy ra, nhưng sự kiện hơn 100.000 sĩ quan và viên chức VNCH bị đưa vào các trại tù khổ sai được gọi một cách mỹ miều là tập trung cải tạo thì không thể nào chối cãi và nói khác đi được. Tất cả những quân cán chính VNCH bị đi cải tạo tập trung sau 30/4/1975 nói chung đều đã bị giam cầm cả chục năm, người ít nhất thì cũng từ 3 năm tới 5 năm.

    Ông Nguyễn Ngọc Tiên, cựu Trung úy Quân lực VNCH từng bị tù cải tạo 6 năm và sau khi được thả lại bị thêm 2 năm tù về tội phản động phát biểu từ San Jose Bắc California Hoa Kỳ:
    “ Lịch sử của thế giới chưa bao giờ thấy một chính sách gọi là cải tạo nào mà giống như chính sách cải tạo của những người cộng sản từ ở bên Liên Xô, bên Tàu hay Việt Nam. Đó chỉ là những hình thức ngược đãi tù tội để mà hành hạ những người mà đi ngược lại với chủ trương của họ. Chúng tôi không thấy một hình thức nào gọi là muốn đào tạo cho người ta tốt hơn mà giống như hình thức của họ hết.”

    Ông Đỗ Mạnh Trường cựu viên chức VNCH đã bị cải tạo tập trung 8 năm và hiện định cư ở Wesminster Quận Cam California phát biểu:

    “Tôi đã nghe rất nhiều câu chuyện, những người ở Miền Nam có gia đình họ ở Miền Bắc vào thăm thì họ cũng khuyên câu đầu tiên là các bác các chú ráng cải tạo cho tốt để được về với gia đình. Nhưng mà sau một thời gian thì những người này không dám nói điều đó nữa, đó là sự ngụy biện hoàn toàn, bởi vì nếu không có áp lực của thế giới thì chắc chắn là tất cả cựu quân nhân dưới danh nghĩa đi tù cải tạo sẽ chẳng còn được mấy người mà về. Xin nhấn mạnh rằng cho đến năm 1979 có một số người được chở vào Thanh Phong Thanh Hóa để biến thành trại viên thay vì phạm nhân theo danh nghĩa họ nói. Họ đã được trả lại đồng hồ được phép đi ra khỏi trại mà không phải có tụi nó dẫn theo thì họ lại được khuyến khích là trong một thời gian ngắn nữa các anh sẽ đưa vợ con các anh ra ngoài này. Thử hỏi giả sử chính sách đó kéo dài thì thế hệ hay giai cấp có còn hay không hay tất cả con cái chúng ta đã trở thành người Thượng hết chỉ sau một thời gian rất ngắn.”

    Trong khi người chủ gia đình theo lệnh Chính quyền đi học tập cải tạo, thực chất là đi tù thì vợ con họ ở nhà trở thành công dân hạng hai, không thể xin việc làm, con cái những người sĩ quan, viên chức VNCH đi cải tạo bị tước đoạt cơ hội vào đại học. Vì chính quyền phân loại các thí sinh thi vào đại học thành 4 nhóm và mỗi nhóm còn chia tới 14 thành phần. Con “ngụy” thời đó gọi là như thế, muốn vào đại học phải có điểm thi nhiều gấp đôi con cán bộ đảng viên mới có thể trúng tuyển, thí sinh đại học thời đó từng chế câu “học tài thi phận” thành “học tài thi lý lịch”. Một sự thật không thể chối cãi là sau khi đất nước thống nhất, đã chẳng có hòa hợp hòa giải gì, mà ngay trong giáo dục cũng đã phân biệt đối xử giữa con cán bộ và con “ngụy quân-ngụy quyền.”
    Nhà báo Lê Phú Khải nhận định:

    “ Không chỉ ở miền Nam mà ở miền Bắc trước kia gia đình trí thức tiểu tư sản, địa chủ tư sản còn bị phân biệt đối xử nữa là sau này ‘giải phóng miền Nam thống nhất đất nước’. Cho nên việc thi vào đại học rồi đối xử không công bằng giữa các thành phần là chuyện hiển nhiên ai cũng thấy… Chuyện phân biệt đối xử lấy giai cấp công nông làm gốc rồi phân biệt đối xử với các giai cấp khác là sai lầm từ gốc rồi, cái này là có thật…mấy ông sử gia chẳng qua là bồi bút thôi, nói để vui lòng bè đảng để thăng quan tiến chức thôi. Chứ bản thân tôi là gia đình toàn cán bộ, thậm chí là cán bộ cao cấp của Đảng, nhưng khi ở Hà Nội ở xóm tôi mấy ông về hay đi xe máy, xe đạp do vậy xã nó phê cho là gia đình tư sản thế là 2 năm trời tôi không được vào đại học. Bản thân tôi đã chịu cái cảnh đó cho nên cái đó là có thật chứ không phải người ta bịa ra.”

    Sau chiến thắng 30/4/1975, nếu không bỏ lỡ một thập niên u mê đem chính sách cải tạo năm 1954 ở miền Bắc vào áp dụng ở miền Nam, thì có lẽ Việt Nam đã tiến xa hơn nhiều và nếu đảng Cộng sản thực tâm muốn hòa hợp hòa giải thì đã không có làn sóng vượt biển tìm tự do kéo dài từ giữa năm 1975 đến 1990. Nhiều người đã tìm được bến bờ tự do nhưng hàng trăm ngàn người không may đã vùi thây đáy biển.

    40 năm sau khi kết thúc cuộc chiến, ở đâu là nỗi vui mừng của người chiến thắng và ở đâu là tiếng thở dài u uất của người dân Việt.





    Nam Nguyên, phóng viên RFA

    Ký ức tháng Tư

    https://www.youtube.com/watch?v=NxTGquwZew4
    Ký ức tháng Tư
    www.youtube.com
    Năm nào cũng vậy, cứ đến tháng tư là vết thương cũ lại nhói đau cho dù cuộc chiến đã qua đi 40 năm. Đối với dân tộc Việt Nam ...
    Người đăng: Ng duc Phan vào lúc 08:54 Không có nhận xét nào:
    Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest

    Thứ Ba, 25 tháng 4, 2017

    HỘI NGHỊ CHUYEN GIA TÂM THẦN ĐẠI HỌC YALE CÔNG BỐ TT TRUMP BỊ TÂM THẦN NẶNG !!!!!!


    HỘI NGHỊ CHUYEN GIA TÂM THẦN  ĐẠI HỌC YALE CÔNG BỐ TT TRUMP BỊ TÂM THẦN NẶNG !!!!!!
                  
                                                                                          http://www.vietpressusa.us/2017/04/cac-bac-si-chuyen-khoa-tam-than-mo-hoi.html - Friday, April 21, 2017:
                      https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiQwgaOMp-YXA2Y2BLSf82aISGfb1S-9IFV1DZe5MFoL1BHH89OAz3PbfMfTIa9o5LVVKJ2UR2_Is4b5IbKZSjeTyuuhM4xtZ_NkTZT5R0DQ9lP6Ta2kF1XAwH-z86T-b_oMReBNf4mFjM/s1600/Dr+John+Gartner.jpg 

                                                             https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjcc32tTFC29ccDFJNDxyEttOYCVjrer-xn9xgsCxc-8wxfGpQi_Pq8soPnDEVkIHHuJU4odzsle19R0NWiWakeCBuAI-fMLLcS3rrjyWmJr6Qit2eGHyJSSLdL5_yhHT6LoeSMenBlEGo/s320/Trump+mental+1.jpg https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEi1aA__6ijtX88rxHyt36qdtZzBbzSaa1jsgCrAbHf2IoqvaK27OvPF5Ui22-DLJenmfnH4t9R8ZillxNfx9KQ4gWAMcP4bmUq1HhJu7gyzhPJGjsXKV1YlKlmu5xE0Am5S7qdNLzVG-No/s640/trump+-+tax+cut.jpg https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhhCzNtKTyR9sIBkTfagYfCnxpwaMSdJrypemCd1JOPw7cQWc_tvqoYlpD4d-LXpjtddCgG0odUPM65-sbmxd2XrY1novNOngriUBqI0deuMb6VdQbIvCZMiA5Xzsb10hECpyP6gT1ScCw/s320/Trump+-+Nor+Ko.jpg
                          
                         Tiến sĩ John Gartner

                                                                                                                              https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjy7L6C2H8Xy-EUhpPPsNyA4FUurHnBWOcYdhdnJMfQELNT4NFh5A7fTuv9Ka0E2yJzZ8AH44tHEQeqoydOJ5uX-UpjXj_y81ScMNX9hkYJzgVVCdIVocCM3th_ZzHtuAIYED6FG79nHb0/s640/_+Trump.jpg

    VietPress USA (21/4/2017):  Hôm nay một số cơ quan báo chí của Hoa Kỳ loan tải tin một nhóm các Bác sĩ chuyên khoa về bệnh tâm thần đã mở cuộc hội thảo hôm Thứ Năm 20/4/2017 tại Trường Y Khoa của Đại học Yale, Hoa Kỳ và đưa ra kết luận rằng "Donald Trump có Bệnh tâm thần nguy hiểm" (Donald Trump has "dangerous mental Illness) và khong thích hợp để lãnh đạo Hoa Kỳ.

    Báo Independent viết rằng nhóm các "Nhóm các Bác sĩ tâm thần đã cảnh báo trong một cuộc hội nghị tại Đại học Yale"  cho rằng ông Donald Trump bị bệnh tâm thần nặng rất nguy hiểm và không thích hợp để làm Tổng thống Hoa Kỳ (http://www.independent.co.uk/news/world/americas/donald-trump-dangerous-mental-illness-yale-psychiatrist-conference-us-president-unfit-james-gartner-a7694316.html)
                                                                                          
    Các chuyên gia về sức khỏe tâm thần cho biết Tổng thống Trump đã "hoang tưởng và ảo tưởng", và nói rằng đó là "trách nhiệm đạo đức" của họ để cảnh báo công chúng Mỹ về "nguy hiểm" đối với tình trạng tâm lý của ông Trump đặt ra cho đất nước.
    Phát biểu tại hội nghị tổ chức ở Đại học Y Khoa Yale, một trong những chuyên gia về sức khoẻ tâm thần, Tiến sĩ John Gartner, chuyên gia tri liệu tâm lý từng cố vấn cho các thành viên thường trực về tâm thần tại Trường Y khoa Đại học Johns Hopkins, đã nói rằng: "Chúng tôi có trách nhiệm đạo đức để cảnh báo công chúng biết về Bệnh tâm thần nguy hiểm của Donald Trump".
    Tiến sĩ Y khoa Gartner cũng là thành viên sáng lập tổ chức "Duty of Warn" (Trách nhiệm Thông báo) là một tổ chức của hàng chục chuyên gia về sức khoẻ tâm thần, đã cho rằng ông Trump không có khả năng làm Tổng Thống Hoa Kỳ. Tiến sĩ Gartner nói rằng việc TT Donald Trump đã tuyên bố và khẳng định rằng số người tham dự lễ nhậm chức ngày 20/01/2017 của ông là đông nhất trong lịch sử các vị Tổng thống Hoa Kỳ.. thì đó chỉ là một trong nhiều bằng chứng cho tháy bệnh lý của ông Trump. Vụ nầy là cảnh báo cho một vấn đề lớn hơn.
    Tiến sĩ Gartner noi thêm: "Tệ hơn nữa chỉ là một kẻ nói dối hoặc một người tự đại thích tâng bốc, ngoài ra ông ta còn hoang tưởng, ảo tưởng và tự cho mình vĩ đại và đã chứng minh điều đó với đất nước trong ngày đầu tiên ông ta làm Tổng thống. Nếu Donald Trump thực sự tin rằng ông có số lượng đám đông qui mô lớn nhất trong lịch sử thì đó là bệnh ảo tưởng". 
    Tiến sĩ Bandy Lee, trợ lý giáo sư tại Khoa Tâm thần ở Đại học Y khoa Yale, nói: "Như một số nhà tâm thần học nổi bật đã lưu ý, rằng Sức khoẻ tinh thần của ông Trump là con voi trong phòng. Tôi nghĩ rằng công chúng thực sự bắt đầu nắm bắt và nói rộng về điều này ngay bây giờ. "

    Ames Gilligan, một nhà tâm lý học và giáo sư tại Đại học New York, nói với hội nghị rằng ông đã làm việc trong một số "những người nguy hiểm nhất trong xã hội", bao gồm cả những kẻ giết người và hiếp dâm - nhưng ông bị thuyết phục bởi "
    sự nguy hiểm" của ông Trump.

    Ông nói: "Tôi đã làm việc với một số người nguy hiểm nhất mà xã hội chúng ta tạo ra, chỉ đạo các chương trình chăm sóc sức khoẻ tâm thần trong nhà tù. Tôi đã làm việc với những kẻ giết người và hiếp dâm. Tôi có thể nhận ra sự nguy hiểm từ cách xa một dặm. Bạn không cần phải là một chuyên gia về sự nguy hiểm hay phải mất năm mươi năm nghiên cứu nó như tôi để biết người đàn ông này nguy hiểm đến thế nào " 
    Tiến sĩ Gartner đã khởi đầu một Thỉnh nguyện thư trực tuyến vào đầu năm nay để kêu gọi ông Trump phải rời khỏi chức vụ, trong đó tuyên bố rằng ông "tâm lý không có khả năng thực hiện thành công nhiệm vụ của Tổng thống". Đơn kiện cho tới nay đã có hơn 41.000 chữ ký (https://www.change.org/p/trump-is-mentally-ill-and-must-be-removed).
    Thỉnh nguyện thư tuyên bố: "Chúng tôi, các chuyên gia về sức khoẻ tâm thần có liên quan, tin vào sự đánh giá chuyên nghiệp của chúng tôi rằng Donald Trump thể hiện một chứng bệnh tâm thần trầm trọng làm cho ông ta không có khả năng tâm lý để hoàn thành nhiệm vụ của Tổng thống Hoa Kỳ."
    "Và chúng tôi trân trọng yêu cầu ông ta được miễn nhiệm, theo điều 4 của bản sửa đổi lần thứ 25 của Hiến pháp, trong đó tuyên bố rằng Tổng thống sẽ được thay thế nếu ông" không thể cai quản các quyền hạn và nhiệm vụ của văn phòng của mình ".
    Các tuyên bố trong cuộc hội nghị đã bị một số lời chỉ trích từ vài cơ sở tâm thần, và những người nầy cho biết các Bác sĩ về bệnh Tâm thần tổ chưc hội nghị đã vi phạm "Quy tắc Goldwater" của Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ, theo đó các nhà tâm thần học không được đưa ra ý kiến chuyên môn về những người mà họ chưa khám nghiệm. Họ cũng bị các đảng viên Cộng hòa lên án, trong đó có Chủ tịch Đảng Cộng hòa Connecticut JR Romano, người cáo buộc nhóm "ném các tiêu chuẩn đạo đức ra ngoài cửa sổ vì họ không thể chấp nhận kết quả bầu cử."
    Trả lời những lời chỉ trích, Tiến sĩ Gartner nói: "Ý niệm cho rằng cần phải phỏng vấn cá nhân để tạo thành một chẩn đoán thực sự không tạo ra một ý nghĩa toàn bộ. Có một điều, nghiên cứu cho thấy rằng cuộc phỏng vấn tâm thần là cách đáng tin cậy nhất để tạo ra chẩn đoán ".
    Một phát ngôn viên của Đại học Yale nói với báo The Independent rằng Hội đồng quản trị đã tuân thủ điều luật Goldwater trong các cuộc thảo luận, nhưng người tổ chức "gặp rắc rối" vì "sự im lặng của cuộc tranh luận".
    "Hội đồng quản trị của Trường Yale Yale tuân thủ"quy tắc của Goldwater". Các nhà tâm thần học ưu tú đã được mời để nói về việc có những quy tắc đạo đức khác thay thế nó như trong thực tế thông thường", người phát ngôn Đại học Yale nói.
    "Nhà tổ chức, Tiến sĩ Bandy Lee, đồng ý với quy tắc Goldwater nhưng đang gặp rắc rối bởi sự mở rộng gần đây của nó (tính đến ngày 16 tháng 3 năm 2017) và sự im lặng của cuộc tranh luận. Bà hy vọng rằng công chúng và chính trị gia sẽ hiểu rằng các vấn đề về sức khoẻ tâm thần không phải là cách được sử dụng làm vũ khí, giống như các vấn đề sức khoẻ khác thì không.
    Tiến sĩ Gartner được mời với tư cách là nhà hoạt động xã hội và..
    MỜI ĐỌC TIẾP TẠI LINK:
    http://www.vietpressusa.us/2017/04/cac-bac-si-chuyen-khoa-tam-than-mo-hoi.html
    __._,_.___




    Posted by: VietPress USA News Agency <vietpressusa@yahoo.com>




        What did you expect?

    From the president? Nothing... just no class!



    1478974.jpg























    Người đăng: Ng duc Phan vào lúc 20:16 Không có nhận xét nào:
    Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest
    Bài đăng mới hơn Bài đăng cũ hơn Trang chủ
    Đăng ký: Bài đăng (Atom)

    Lưu trữ Blog

    • ▼  2020 (21)
      • ▼  tháng 6 (7)
        • Nghị viên Los Angeles bị bắt vì nhận hàng triệu đô...
        • CON CHÓ GHẺ JOHN BOLTON PHẢN CHÚ
        • Tổng thống dự trù chấm dứt các đặc quyen quốc hội.
        • Lương huu trí của TNS , DB Hoa Kỳ
        • THẾ LỰC NÀO ĐỨNG SAU LƯNG ĐÁM BẠO LOẠN Ở MỸ ?
        • Dân da đen nổi loạn & Ác mộng của đảng Dân Chủ
        • Kế thứ 3 của tôn tử --- (Tác giả : Trần Gia Phụng)
      • ►  tháng 5 (2)
      • ►  tháng 4 (9)
      • ►  tháng 1 (3)
    • ►  2019 (28)
      • ►  tháng 11 (1)
      • ►  tháng 10 (5)
      • ►  tháng 9 (10)
      • ►  tháng 8 (4)
      • ►  tháng 7 (2)
      • ►  tháng 6 (6)
    • ►  2018 (30)
      • ►  tháng 10 (1)
      • ►  tháng 8 (1)
      • ►  tháng 7 (2)
      • ►  tháng 6 (4)
      • ►  tháng 5 (6)
      • ►  tháng 4 (13)
      • ►  tháng 1 (3)
    • ►  2017 (67)
      • ►  tháng 9 (1)
      • ►  tháng 8 (2)
      • ►  tháng 7 (4)
      • ►  tháng 6 (9)
      • ►  tháng 5 (12)
      • ►  tháng 4 (4)
      • ►  tháng 3 (11)
      • ►  tháng 2 (3)
      • ►  tháng 1 (21)
    • ►  2016 (216)
      • ►  tháng 12 (3)
      • ►  tháng 11 (9)
      • ►  tháng 10 (7)
      • ►  tháng 9 (11)
      • ►  tháng 8 (8)
      • ►  tháng 7 (13)
      • ►  tháng 6 (8)
      • ►  tháng 5 (43)
      • ►  tháng 4 (42)
      • ►  tháng 3 (23)
      • ►  tháng 2 (18)
      • ►  tháng 1 (31)
    • ►  2015 (94)
      • ►  tháng 12 (24)
      • ►  tháng 11 (25)
      • ►  tháng 10 (26)
      • ►  tháng 9 (12)
      • ►  tháng 8 (7)
    Chủ đề Đơn giản. Được tạo bởi Blogger.