Thứ Tư, 2 tháng 11, 2016

TƯƠNG LAI CỦA ĐẤT NƯỚC VÀ DÂN TỘC VN ...Tác giả: Linh mục Nguyễn Văn Lý Ngày đăng: 2016-10-06



 Fw   TƯƠNG LAI CỦA ĐẤT NƯỚC VÀ DÂN TỘC VN ...
To:    Đồng Bào Việt Nam

TƯƠNG LAI CỦA ĐẤT NƯỚC VÀ DÂN TỘC VN ...
 

Dân Tộc Việt Nam Sẽ Bị Diệt Chủng !!!
Khi Toàn Dân Bị Ác Giặc  TQ Bắt Làm Nô Lệ !!!
Tác giảLinh mục Nguyễn Văn LýNgày đăng: 2016-10-06
I. Việt Nam đã bị TQ xâm chiếm nhiều lần, luôn bị TQ thực hiện mưu gian đồng hóa người Việt, nô dịch VN, muốn biến VN thành một quận huyện của TQ, qua 8 thời kỳ Bắc thuộc :
* Lần 1 : Từ năm 207 TCN - 42 SCN : Đông Hán & Tây Hán, Hai Bà Trưng khởi nghĩa.
* Lần 2 : Từ năm 43- 248 : Nhà Đông Ngô, Bà Triệu Thị Trinh khởi nghĩa.
* Lần 3 : Từ năm 280-542: Nhà Đông Tấn, Tống, Lương. Anh hùng Lý Bôn khởi nghĩa lập nhà nước Vạn Xuân độc lập đầu tiên, chọn thủ đô là Long Biên.
* Lần 4 : Từ năm 602- 938 : Nhà Tùy, Đường, Nam Hán, nhiều nhân sĩ khởi nghĩa như Lý Tự Tiên và Đinh Kiến (687), Mai Thúc Loan (722), Phùng Hưng (766), Dương Thanh (819), nhất là Ngô Quyền với chiến thắng Bạch Đằng (938), chấm dứt hơn 1000 năm bị TQ đô hộ.
* Lần 5 : 1258-1288 : Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Hưng Đạo đại thắng quân Nguyên Mông 3 lần, nhất là chiến thắng Bạch Đằng năm 1288.
* Lần 6 : 1407 – 1427 : Lê Lợi đánh đuổi quân Minh năm 1427.
* Lần 7 : Nguyễn Huệ Quang Trung đánh thắng quân Thanh năm 1792.
* Lần 8 : Thời 1924-2016 : Hơn 750 năm trước, Vua Trần Nhân Tông đã căn dặn: Cái họa lâu đời của ta là họa Trung Hoa. Một tấc đất của tiền nhân để lại cũng không để lọt vào tay kẻ khác. Ta để lời nhắn nhủ nầy như là một lời di chúc cho muôn đời con cháu về sau. Có chết thì thôi, không được nhờ Tàu”. Luật Hồng Đức nửa cuối TK 15 tử hình 3 đờinhững ai sống ở biên giới dám bán đất ruộng vườn cho người nước ngoài. Thời Pháp bảo hộ (1884-1945), VN đã đoạn tuyệt hẳn với TQ.
Nhưng quá đau thương thay ! Thời 1924-2016, 12 Bộ chính trị ĐCSVN muốn cầu cạnh Ác Cộng TQ, không phải để cứu Nước mà là để cứu Đảng, khởi đầu mưu gian Hán hóa Việt Nam của Ác Cộng TQ, phát sinh quá nhiều đại thảm họa, đưa VN đến sát bờ vực thẳm mất Nước quá nguy cấp cần kề :
HCM nói : “Những gì 2 đồng chí Stalin và Mao Trạch Đông nói thì chúng ta phải tin, vì 2 đồng chí ấy không bao giờ sai lầm” !!! Trong khi cả thế giới đều biết rất rõ đây là 2 tên đại gian ác của Nhân Loại !
* Ngày 14-9-1958, Phạm Văn Đồng ký công hàm xác nhận lãnh hải 12 hải lý của Trung Cộng theo đường lưỡi bò 9 khúc do Chu Ân Lai công bố ngày 04-9-1958. Theo đó, toàn bộ Biển Đông (biển Hoa Nam) rơi vào tay Trung Cộng, dù Phạm Văn Đồng không có thẩm quyền gì để tuyên bố về lãnh thổ - lãnh hải của nước Việt Nam Cộng Hòa từ vĩ tuyến 17 trở xuống theo Hiệp định Genève 1954.
* Năm 1965, Mỹ tuyên bố vùng Hoàng Sa - Trường Sa là vùng oanh kích tự do, thì ngày 9-5-1965, Bộ Ngoại giao của Bắc Việt tuyên bố : Hoàng Sa - Trường Sa là thuộc Trung Quốc. Dù lời nói ấy không có giá tri pháp lý.
* Hiệp định biên giới VN-TQ ngày 30-12 -1999, VN buộc phải nhượng cho TQ 720km2 đất liền.  Hiệp định vịnh Bắc Bộ ngày 25-12-2000, VN buộc phải nhượng cho TQ 11.000 km2 mặt biển vịnh Hạ Long.
* Đến nay, 10 tỉnh phía Bắc dọc biên giới Việt - Trung đã cho TQ thuê 50 năm hơn 306.000 hecta đất, chiếm hầu hết những vị trí chiến lược rất hệ trọng ở miền Bắc, như căn cứ Tam Điệp là nơi Bộ Chính Trị đảng CSVN ẩn náu trong giai đoạn chiến tranh năm 1979.
* Từ năm 2008, VN miễn chiếu khán /visa cho người TQ tự do đi vào toàn lãnh thổ VN.
* Trong các khu chế xuất, khu công nghiệp, công nhân, quản đốc và chủ nhân người Tàu ngày càng đông, đẩy người lao động Việt Nam phải thất nghiệp! Các nhà máy sản xuất hệ trọng như nhà máy phát điện, gang thép, sản xuất hóa chất công nghiệp... ngày càng nhiều chủ nhân và công nhân TQ điều hành - quản trị.
Mưu gian nô dịch của TQ rất tinh vi thâm độc : Chiếm biển Đông, khống chế nguồn nước các sông Mekong, sông Hồng, sông Đà,... lập căn cứ ở vùng xương sống chiến lược Tây Nguyên, vùng rốn Vũng Áng, Hải Vân, bờ biển miền Trung…, lũng đoạn kinh tế, tuồn hàng độc hại, mua đất mua nhà, kinh doanh ồ ạt, di dân đồng hóa, văn hóa chữ Hán, dùng cờ TQ 6 sao để cố ý đưa VN vào đại gia đình TQ...
Ngày 14-10-2011 cờ 6 sao của TQ đã chính thức xuất hiện trên VTV. Ngày 21-12-2011 và các lần sau, khi Tập Cận Bình và các lãnh đạo CSTQ qua Hà Nội, hàng trăm thiếu nhi Hà Nội cầm cờ 6 sao của TQ chào đón. 2 Tổng Bí thư 2 ĐCS VN & TQ ôm hôn nhau giữa rừng cờ 6 sao. Hiện nay cờ 6 sao này thi thoảng xuất hiện nhiều nơi tại VN. Mọi người Việt tỉnh táo nhạy cảm đều hiểu là cờ chính thức của TQ đến nay chỉ có 5 sao. Sao lớn nhất đại diện tộc Hán. 4 sao nhỏ đại diện 4 tộc người Hồi, Mãn, Mông, Tạng. Nay 1 số ít lãnh đạo CSVN cúi đầu tủi nhục đồng lõa cho phép TQ gian độc dùng sao nhỏ thứ 6 để đại diện cho người Việt.
* Hàng ngàn du khách TQ dẫn nhau đi thăm thắng cảnh VN, rồi tự giới thiệu các thắng cảnh ấy là của TQ, trên tay cầm biểu ngữ, và trên ô ghi 5 chữ Hán: 越南 - 中国城 VIỆT NAM - TRUNG QUỐC THÀNH (VN là thành phố của Trung Quốc).
II. Nếu không THOÁT TRUNG kịp, Dân Tộc Việt Nam chắc chắn sẽ bị diệt chủng thực sự ! Là đại thảm họa rõ ràng đã và đang xảy ra của thời kỳ Bắc thuộc lần 8 và 9. Cũng là thời kỳ đại Bắc thuộc lần 2 hiện nay.
Hơn 2000 năm qua, Trung Hoa đã quyết tâm xâm chiếm VN 7 lần. Vì các thời ấy đất còn rộng người còn thưa, TQ chỉ chủ tâm đồng hóa người Việt, nhưng họ không thể thành công, nên Dân Tộc VN vẫn còn. Vì thế, Tổ Tiên chúng ta đã luôn đứng lên đượcKhác với 7 lần Bắc thuộc đã qua, lần thứ 8 và 9 này, cũng là lần đại Bắc thuộc thứ 2 này, đất chật người đông, chắc chắn TQ ác tâm diệt chủng như đã làm ở Nội Mông, Tây Tạng, Tân Cương gần 60 năm qua. Do đó, nếu không Thoát Trung kịp, VN bị làm 1 khu - 1 tỉnh của TQ, thì lần này chắc chắn Dân Tộc VN sẽ vĩnh viễn bị tiêu diệtchúng ta và con cháu chúng ta không thể đủ sức đứng lên đượcvì 12 lý do rất rõ ràng hoàn toàn xác thực sau đâymà tôi sẵn sàng đi tù thêm 12 lần nữa để làm chứng :
1. Hàng chục triệu người Việt tìm mọi cách trốn chạy tị nạn ở nước ngoài, bi thảm còn hơn dân Xyri ở Trung Đông  ... hiện nay. Theo Tổ chức Di cư Quốc tế và Ủy ban Kinh tế - Xã hội Liên Hiệp Quốc, 25 năm qua 1990-2015, đã có  hơn 2,5 triệu người Việt Nam di cư ra các  nước ngoài, mỗi năm #100.000 người Việt di cư, qua 1 trong 8 hình thức là : -- đi lao động không về, đi  du học không  về, đi du lịch không về,  đi chữa bệnh không  về, đi công tác không  về, đi xuất ngoại  hôn nhân thật-giả, thân nhân bảo lãnh, xuất cảnh chui .... Ngày càng đông , càng nhiều  và khôn ranh hơn.... Ngay cả rất nhiều , rất nhiều Cán Bộ và Đảng Viên các cấp , các ngành cũng chỉ muốn ra các nước ngoài mà thôi !!! Càng sớm , càng nhanh , càng chóng , càng lẹ thì càng tốt !!!! ... Phải rồi , ngu dại gì mà ở VN để rồi phải chịu CHẾT !!!!  
2. Hàng chục triệu người Việt, nhất là các thanh niên nam nữ sẽ bị cưỡng bức đi lao động, làm nô lệ tạp dịch , đi khai phá núi rừng ở nhiều nơi hẻo lánh : Tân Cương, Nội Mông, Tây Tạng, Vân Nam, Quảng Tây, cao nguyên Việt Bắc, Tây Nguyên,..., bị phân tán rất mỏng không cho tập trung,để không thể đủ sức Phục Quốc, như đã và đang xảy ra với các tình trạng của  Tây Tạng, Nội Mông, Tân Cương .
3. /  Ít nhất là 20 triệu người phụ nữ , thiếu nữ  VN sẽ bị ít nhất 20 triệu đàn ông TQ đang thiếu vợ tìm mọi cách cưỡng dâm , cưỡng hiếp ,  cưỡng bức làm vợ hay làm nô lệ tình dục ...
4. Mỗi năm, hàng chục ngàn nhân sĩ, thanh niên nam nữ Việt, sẽ bị án tử hình - chung thân - tù đày khổ sai ... do chống đối TQ !!!! 60 năm qua, dân Nội Mông, Tây Tạng, Tân Cương, dù chống ngoại xâm yếu hơn VN, mỗi năm vẫn liên tục có rất nhiều ngàn người  bị án tử hình – chung thân – tù đày khổ sai ... Người Việt có truyền thống chống ngoại xâm rất mạnh, nên càng chống đối, thì càng bị tiêu diệt , bị đàn áp dã man , tàn ác hơn.
5. Các Tôn giáo,  các Tổ chức dân sự... sẽ bị Trung Quốc  & Bạo quyền nô lệ , tôi mọi  của Ác Cộng TQ khống chế  , điều khiển , sai khiến .
6.  Các  Cơ sở,  các trường học,  các nhà cửa , đất đai , đồng ruộng , nương vườn ,  biển , đảo , núi rừng , sông hồ ,  tài sản, quặng mỏ ,  nông sản, hải thủy sản , lâm sản của VN ... đều do Trung Quốc chiếm đoạt , nắm giữ , cai quản ,  quản trị, ban phát.
7. Văn hóa Việt lụi tàn, chết ngủm ... Văn hóa Hán chệt lên ngôi .  Tiếng Việt chỉ còn là thổ ngữ nhỏ. Các Sinh viên ,Học sinh , thanh niên nam nữ  và mọi người sẽ bị bắt ̣ buộc học chữ Hán , tiếng Hán , tiếng Quan Thoại ... Hàng  triệu giáo viên Trung Hoa dạy tiếng Hán tại VN.  Các Đường phố, hàng quán mang tên Hán chệt , tên  Tàu , trang hoàng Lễ - Tết đậm nét Tàu, ngôn ngữ quảng cáo Tàu, bày bán thực phẩm hàng hóa độc hại Tàu.... Hàng hóa , thực phẩm độc hại của Tàu  Hán chệt tràn lan khắp nơi làm cho mọi người dân Việt bị nhiễm độc nặng nề liên tục và lâu dài , rồi bị phát sinh nhiều chứng bệnh , nhiều ung thư và sẽ bị chết ngủm , chết tiêu , chết tiệt hàng đống , hàng đống và sẽ  BỊ  DIỆT CHỦNG !!!!!!!!
8. Dân Việt sẽ suy nhược tinh thần do quá tủi nhục, đau lòng, buồn khổ ; yếu liệt , liệt nhược  thể xác vì bị nhiễm độcnguồn nước, môi trường, thực phẩm, hải thủy sản, sản phẩm các loại ( Hán chệt bí mật , ngấm ngầm đổ xả các thuốc độc , các chất độc hoá học  cực  mạnh xuống các nguồn nước , sông hồ , biển của Việt Nam để giết chết hết , để tiêu diệt , hủy diệt TUYỆT CHỦNG DÂN TỘC VIỆT NAM  !!!!! Nhưng các lãnh đạo , các chức trách Nguyễn phú Trọng , Nguyễn Phản Phúc , Trần dai Quang và Ngu T. Kim Ngân ..v..v.. đã cố tình để cho Hán chệt Trung quốc làm các điều độc dữ kinh khiếp nầy đối với DÂN TỘC VIỆT NAM !!!!!! ) !!!!!! ....
9. 60 năm qua, dân Nội Mông, Tây Tạng, Tân Cương từ hơn 100 triệu, nay cả 3 vùng ấy chỉ còn # 20 triệu. Cư dân đa số là người Hán... Vậy người Việt, sau 30-40 năm nữa, từ 94 triệu sẽ chỉ còn 20-30 triệu. Và ngay trên đất VN đa số là người Hán-Hoa sẽ định cư.
10. Các  Bộ đội VN sẽ bị  di chuyển đưa  đi trấn thủ biên giới Ấn Độ, Pakistan, Tân Cương..., Các Bộ đội Tứ Xuyên, Quý Châu, Quảng Đông.... của Hán chệt  sẽ trấn giữ Hà Nội, Sài Gòn, Hải Phòng, Đà Nẵng, Tây Nguyên, Trường Sa....
11. Tà quyền tay sai VN chắc chắn chỉ còn là Bạo quyền nô lệ , tôi mọi hung hiểm của Ác Cộng TQ , như hiện nay đang có, nơi 1 số Cán bộ , Viên chức , Đảng viên  các cấp các ngành, đặc biệt là Côn an, Tòa án...
12. Lịch sử sẽ bị viết lại hoàn toàn.  Các anh hùng Dân tộc như Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung..., bị viết thành các tên nổi loạn , các kẻ phiến loạn chống lại trung ương Hán chệt , Tàu chệt ... Còn các tay sai nô lệ , tôi mọi của Hán chệt sẽ được viết  trở thành những nhà yêu nước nhiệt thành , có tượng đài khắp nơi ...
*** Mặc Dù chúng ta  luôn coi người Hán - Hoa là Anh Chị Em , cùng chung 1 Gia Đình Nhân Loại, cùng chung 1 Cha Trời, nhưng chúng ta phải quyết tâm ngăn chặn hành động Hán hóa thâm độc-  cưỡng chiếm-  ác tâm diệt chủng của họ. .. Phải Thoát  Trung hay là chịu Chết !!!! Toàn Dân , Toàn Quân Phải Thoát Trung !!!!  Dân Tộc Việt Nam Phải  Trường Tồn !!!!
Việt Nam quá đau thương, ngày 04-10-2016
Linh mục Nguyễn Văn Lý

                                                                                                 ***  Xin phổ biến rộng rãi khắp nơi .        
                   
                                  Trần Thanh Hải Vân - Hoàng T. Bích Diệu - Chí Sỹ Trần Trọng Miên - Phạm Thị 
                        Thiên Hạnh - Nguyễn Thị Hiền Ngoan - Lê Thị Ngọc Thương - Trần T. Minh Thủy 
                        Đỗ T. Xuân Phượng - Hà T. Bảo Linh - Châu T. Uyên Lan  Và Các ANH CHỊ EM Của
                        PHONG TRÀO BẢO VỆ GIỐNG NÒI VIỆT NAM .

“Năm năm vàng son 1955-60” của Việt Nam Cộng Hòa--Nguyễn Tiến Hưng Cựu Tổng trưởng VNCH, gửi cho BBC từ Virginia, Hoa Kỳ

Năm năm vàng son 1955-60  của Việt Nam Cộng Hòa
30 tháng 10 2016.
Nguyễn Tiến Hưng Cựu Tổng trưởng VNCH, gửi cho BBC từ Virginia, Hoa Kỳ

https://i0.wp.com/ichef-1.bbci.co.uk/news/660/cpsprodpb/17269/production/_92152849_160929064615_sg4-1.jpg
Image copyright Saigon
Từ cao nguyên Tây Tạng, con sông Cửu Long cuồn cuộn chảy như thác lũ xuống phía nam qua tỉnh Vân Nam, tới Lào, Thái Lan, Kampuchia, rồi Việt Nam trước khi ra Biển Đông.
May cho Miền Nam là có hồ lớn Tonle Sap ở Campuchia hút đi một phần lớn lượng nước từ thượng nguồn cho nên từ đây dòng sông lại uốn khúc hiền hòa chảy vào Miền Nam.
Tới gần biên giới thì con sông chia ra làm 8 nhánh. Nhưng con số 9 được coi là may mắn cho nên phải tìm ra cho được một nhánh nữa, tuy là rất nhỏ (dài khoảng 10 dậm) để cộng lại thành ra 9 nhánh, gọi là Cửu Long Giang.
Dòng sông Chín Con Rồng uốn mình tưới nước cho vùng đồng bằng Nam Bộ mầu mỡ, phì nhiêu trở thành vựa lúa của cả nước. Người nông dân nơi đây chỉ cần trồng mỗi năm một vụ là cũng đủ ăn, lại còn dư thừa để tiếp tế ra Miền Bắc và xuất cảng.

Khởi đầu gian khó

Nhưng trong mười năm chiến tranh loạn lạc, trên một phần ba đất trồng trọt đã bị bỏ hoang, nhường chỗ cho những bụi rậm và cỏ dại lan tràn.
Một phần lớn hệ thống kênh rạch cũng bị khô cạn hay sình lầy. Hệ thống bơm nước, thoát nước cũng bị hư hại. Bởi vậy, sản xuất thóc gạo của Miền Nam trong mười năm trước 1955 đã bị giảm đi đáng kể.
Ngoài ra, các phương tiện giao thông như đường bộ, đường sắt, cầu cống và các cơ sở công kỹ nghệ như đường trắng, rượu bia, sợi bông cũng đều bị hư hại.
Cho nên vào năm 1955, khi “Một Quốc Gia Vừa Ra Đời” như báo chí Mỹ tuyên dương thì quốc gia ấy đã phải đối diện với bao nhiêu khó khăn khôn lường.
https://i1.wp.com/ichef.bbci.co.uk/news/624/cpsprodpb/8809/production/_92152843_160407153532_saigon__640x360_getty_nocredit-1.jpg





Image copyright Getty Images
Ngân sách của Pháp để lại thì thật eo hẹp, kỹ sư, chuyên viên trong mọi lãnh vực đều hết sức hiếm hoi vì Pháp đã rút đi hầu hết, để lại một lỗ hổng lớn cho cả nển kinh tế lẫn hành chánh, giáo dục, y tế.
May mắn là trong năm năm đầu, từ mùa Thu 1955 tới mùa Thu 1960, Miền Nam có được năm năm vàng son, vừa có hòa bình lại được đồng minh Hoa kỳ hết lòng yểm trợ vật chất và kỹ thuật cho nên đã thu lượm được nhiều kết quả có thể nói là vượt bực.
Hồi tưởng lại thời gian ấy, nhiều độc giả chắc còn nhớ lại cái cảnh thanh bình khi các em học sinh mặc áo chemise trắng, quần xanh, các nữ sinh với những chiếc áo dài trắng tha thướt ngày ngày cắp sách đến trường.
Cha mẹ, anh em thì lo công việc làm ăn. Giầu có thì chưa thấy nhưng hầu hết đã đủ ăn đủ mặc, xã hội trật tự, kỷ cương. Tuy dù có nhiều bất mãn khó tránh về chính trị, tôn giáo và xã hội, nhưng tương đối thì ta phải công nhận rằng đây là thời gian hào quang nhất của Cộng Hòa Việt Nam.

Định cư gần một triệu người di cư từ Miền Bắc

Công việc đầu tiên và khẩn cấp nhất là phải định cư tới gần một triệu người, tương đương bằng 7% dân số Miền Bắc di cư vào Nam.
Đoàn người này hoàn toàn ‘tay trắng’ – chúng tôi gọi là đoàn người ‘bốn không’: không nhà cửa, đất đai, tiền bạc, ngành nghề chuyên môn ngoài nghề nông.
Làm sao tìm được nơi ăn, chỗ ở, tạo dựng lại được công ăn việc làm, đào giếng nước, xây nhà thương, bệnh xá, trường học cho con em để đáp ứng nhu cầu? Ngoài việc hành chính, lại còn tìm đâu ra bác sĩ, y tá, thầy dạy cho con em?
https://i2.wp.com/ichef-1.bbci.co.uk/news/624/cpsprodpb/153F1/production/_92152078_160407153313_saigon__640x360_getty_nocredit-1.jpg





Image copyright Getty Images
Sau này khi nói về thành công của Tổng thống Diệm về việc này, TT Kennedy viết cho ông nhân ngày Quốc Khánh 26/10/1961:
Thưa Tổng thống,
Thành tích mà Ngài đã đạt được để đem lại niềm hy vọng mới, nơi cư trú và sự an ninh cho gần một triệu người lánh nạn cộng sản từ Miền Bắc đã nổi bật như một trong những nỗ lực đáng được tán dương nhất, và được điều hành tốt đẹp nhất trong thời hiện đại.”

Tái thiết và phát triển nông nghiệp

Ưu tiên của công việc tái thiết và phát triển phải là nông nghiệp vì đại đa số nhân dân làm nghề nông. Đồng bằng Cửu Long là vựa lúa của cả nước, nhưng sản xuất đã giảm đi đáng kể trong mười năm ly loạn.
Thời tiền chiến sản xuất lên tới 4,2 triệu tấn (1939). Tới 1954 chỉ còn 2,5 triệu tấn. Cũng năm 1939 xuất cảng gạo là gần 2 triệu tấn, năm 1954 chỉ còn 520.000 tấn.
Tại vùng đồng bằng, trong tổng số là 7 triệu hecta đất trồng trọt có tới 2,5 triệu hecta (trên một phần ba) bị bỏ hoang. Lúa gạo là mạch máu của người dân cho nên công việc đầu tiên là phải đưa diện tích này vào canh tác.
Đây là một cố gắng vượt mức vì không những nó đòi hỏi phải tốn phí nhiều tiền bạc, công sức, để sửa chữa lại hệ thống thủy lợi, vét nạo kênh rạch, lại còn làm sao xây dựng được quyền sở hữu đất đai và phương tiện sản xuất cho người nông dân.




https://i1.wp.com/ichef.bbci.co.uk/news/624/cpsprodpb/D629/production/_92152845_160407153147_saigon__549x549_getty_nocredit-1.jpg
Image copyright Getty Images

Cải cách điền địa: Khó khăn và giải pháp thành công

Người khôn của khó. Lo lắng chính của người dân là làm sao có được một mảnh đất để sinh sống. Nếu như mảnh đất ấy lại nằm gần sông nước thì là vàng.
‘Đất Nước tôi’: đất và nước. Chỉ có Việt Nam ta là dùng hai chữ đất và nước để chỉ quê hương, tổ quốc mình vì tấc đất là tấc vàng.
Các biện pháp cải cách ruộng đất bắt đầu vào năm 1955 với lệnh giới hạn địa tô (tiền thuê đất) và những biện pháp giúp cho tá điền (người nông dân thuê đất) có được sự yên tâm về quyền sử dụng đất.
Cải cách điền địa là công việc rất khó khăn của các chính phủ Á Châu, nhưng ở Miền Nam là khó khăn nhất.
Làm sao mà lấy ruộng của người này chuyển cho người khác, nhất là khi đất canh tác lại tập trung vào một số rất nhỏ đại điền chủ? Họ là những người nắm thực quyền tại địa phương và gián tiếp, tại đô thị. Ở đồng bằng sông Cửu Long, sự tập trung quyền sở hữu đất vào một số điền chủ là cao nhất ở vùng Đông Nam Á: chỉ có 2,5% điền chủ mà đã sở hữu tới một nửa diện tích canh tác, trung bình mỗi điền chủ có hơn 50 mẫu đất.
Trước tình huống ấy, TT Diệm đã phải đối mặt với một khủng hoảng xã hội rất có thể xẩy ra nếu như phát động mạnh chương trình cải cách điền địa. Nhưng TT Diệm vẫn đặt vấn đề này là ưu tiên số một của chính sách kinh tế, bắt đầu ngay từ 1955 bằng việc cải tổ quy chế tá điền.
Để hỗ trợ cho nông dân được yên tâm khi đi làm thuê, điền chủ phải ký hợp đồng với tá điền về điều kiện thuê đất: tiền thuê đất, thời hạn thuê, triển hạn khế ước, giảm tô trong trường hợp mất mùa.
Kết quả về nông nghiệp trong 5 năm rất khả quan: sản xuất cây lương thực tăng 32%, vượt qua tất cả mức sản xuất thời tiền chiến. Năm 1959, sản xuất gạo lên 5,3 triệu tấn, cao nhất trong lịch sử kinh tế Miền Nam cho tới thời điểm đó. Về xuất cảng: với tổng số là 340.000 tấn, năm 1960 cũng đánh dấu mức xuất cảng cao nhất.

Phát triển công kỹ nghệ và quy chế ‘Quốc tịch Việt’

Dưới thời Pháp thuộc, kỹ nghệ và tài nguyên hầu như không được phát triển vì người Pháp chia ra hai vùng rõ rệt: Miền Bắc tập trung vào kỹ nghệ và khai thác hầm mỏ, Miền Nam thì căn bản là tập trung vào nông nghiệp, chỉ có một số sản phẩm tiêu thụ như nhà máy bia, diêm quẹt, thuốc lá, độc quyền thuốc phiện.
Bởi vậy từ 1955, Miền Nam bị cắt đứt tiếp liệu về than và khoáng sản. Chuyên viên kỹ thuật, kỹ sư lại thật ít ỏi vì Pháp đã rút đi hầu hết.
Từng bước, chính phủ bắt đầu khai thác tài nguyên với ba dự án chính: mỏ than Nông Sơn, thủy điện Đa Nhim, và phốt phát tại Hoàng Sa – Trường Sa. Lúc ấy thì chưa biết là có dự trữ dầu lửa lớn ở những quần đảo này.




Một chuyện ít người biết là việc đổi quốc tịch.
Nhiều người lên án hành động của TT Diệm là độc tài khi ông đưa ra quy định vào hè 1955 căn bản là nhắm vào các thương gia người Tầu (đa số sinh sống ở Chợ Lớn): nếu muốn làm ăn ở Việt Nam thì phải đổi ra quốc tịch Việt Nam.
Chúng tôi nghiên cứu thì mới hiểu lý do sâu xa là vì thời gian ấy, cơ sở kỹ nghệ ở Miền Nam căn bản là thuộc quyền sở hữu của người Pháp, cho nên khi TT Diệm quyết tâm đẩy Pháp ra khỏi Miền Nam thì ông tiên liệu trước và mở đường để người Tầu nhập quốc tịch Việt Nam với mục đích là để cho họ (vì có nhiều vốn liếng) sẽ có thể mua lại những cơ sở kỹ nghệ của người Pháp.
Một kích thích nổi bật khác về kinh tế là chính sách cởi mở, ưu đãi đối với các nhà đầu tư ngoại quốc: bảo đảm về chiến tranh, cam kết không tịch thu hay quốc hữu hóa tài sản của người ngoại quốc, ưu đãi về thuế má và cho phép chuyển tiền lời ra ngoại quốc.

Hạ tầng cơ sở

Tái thiết mạng lưới giao thông đã bị hư hại trong thời chiến và xây dựng thêm nữa là đòi hỏi tiên quyết cho việc phát triển kinh tế và xã hội.
Tới năm 1960, hệ thống đường bộ, đường sắt, đường thủy và các tuyến hàng không đã được cải thiện canh tân và mở rộng đáng kể. Hệ thống vận chuyển hiện đại bao gồm đường sắt, một mạng lưới các đường quốc lộ, liên tỉnh lộ, hương lộ, đường thủy và đường hàng không.
Đường bộ: trong khoảng 9.000 dặm đường, có hơn 2.000 dặm là bê tông nhựa; 3.000 dặm đường có cán đá, và khoảng 4.000 dặm là đường hương lộ.
Đường sắt: năm 1955 giao thông đường sắt cũng được sửa chữa và canh tân. Tới 1959 toàn hệ thống bao gồm 870 dặm, gồm một tuyến đường chính chạy từ Sàigòn đến Đông Hà, nối kết toàn bộ các tỉnh dọc miền duyên hải (nhiều khúc bị cắt đứt trong 12 năm chiến tranh).
Một chi nhánh đường sắt (có móc để leo đồi) đi từ Phan Rang lên Đà Lạt, và một chặng nối với mỏ than Nông Sơn. Một khúc ngắn về phía đông bắc, đi từ Sàigòn tới Lộc Ninh.
Hàng không: hãng Hàng không Quốc gia Việt Nam – Air Vietnam – được thành lập lúc đầu để bay trong nước. Ngoài phi trường Tân Sơn Nhất, các phi trường được sửa chữa lại và xây dựng thêm gồm Huế, Đà Nẵng, Nha trang, Qui Nhơn, Biên Hòa, Đà Lạt, Ban mê Thuột, Pleiku, Hải Ninh, Cần Thơ, Phú quốc.
Từ nội địa, Air Vietnam bắt đầu bay tới Phnom Penh, Siem Reap, Bangkok, Vientianne và Savannakhet. Đường quốc tế phần lớn được đảm nhiệm bởi các hãng Air France, Pan American, World Airways, British Airways, Royal Dutch, Cathay Pacific và Thai Airways.

Ngân hàng và tiền tệ

Thiết lập được một ngân hàng trung ương và một hệ thống ngân hàng thương mại để thay thế cho Banque de L’Indochine và các ngân hàng thương mại Pháp ở Sài Gòn là một thành quả lớn của thời đệ Nhất Cộng Hòa.
Ngay từ tháng 1/1955, Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam được thành lập để phát hành đồng tiền Việt Nam và thực hiện các nghiệp vụ của một ngân hàng trung ương tân tiến.

Giáo dục và đào tạo

https://i2.wp.com/ichef-1.bbci.co.uk/news/304/cpsprodpb/1F59/production/_92152080_160415093606_vietnamese_girl_with_bike_saigon_412x549_threelionsgettyimages_nocredit-1.jpg





Image copyright Getty Images
Xét đến cùng, con người vẫn là yếu tố quan trọng nhất trong việc phát triển kinh tế lâu dài. Trong thời kỳ 1955-1960, Miền Nam đã phát triển giáo dục rất nhanh.
Tiểu học: 1960, đã có tới 4.266 trường tiểu học công và 325 trường tiểu học tư thục. Tổng số học trò lên tới gần 1.200.000.
Trung học: các trường trung học công lập tăng từ 29 lên 101 trường. Nguyên trường Gia Long: số học sinh đã tăng từ 1.200 lên tới 5.000.
Đại học: trước năm 1954, Miền Nam không có đại học. Muốn học cử nhân phải ra Hà Nội. Năm 1955, chính thức thành lập đại học Sài Gòn, rồi tới Đại học Huế, Đà Lạt. Tới năm 1962 tổng số sinh viên lên tới 12.000.
Xem như vậy, thành quả của “Năm Năm Vàng Son 1955-1960” là thời gian quý hóa nhất của lịch sử Cộng Hòa Việt Nam.
Ngày Quốc Khánh 26/10/1960 Tổng thống Eisenhower viết cho TT Diệm:
Kính thưa Tổng Thống,
Trong năm năm ngắn ngủi kể từ khi thành lập nước Cộng hòa, nhân dân Miền Nam đã phát triển đất nước của mình trong hầu hết các lĩnh vực. Tôi đặc biệt ấn tượng bởi một thí dụ. Tôi được thông báo rằng năm ngoái hơn 1.200.000 trẻ em Việt Nam đã có thể đi học trường tiểu học, như vậy là nhiều hơn gấp ba lần so với năm năm trước đó. Điều này chắc chắn là một yếu tố hết sức thuận lợi cho tương lai của Việt Nam. Đồng thời khả năng của Việt Nam để tự bảo vệ chống lại cộng sản đã lớn mạnh một cách không thể đo lường được kể từ khi họ tranh đấu hữu hiệu để trở thành một nước Cộng Hòa độc lập.”
Hòa bình là một điều kiện tiên quyết cho xây dựng và phát triển.
Nhân dân Miền Nam đã có được năm năm vàng son để làm ăn, sinh sống trong hoàn cảnh tương đối là thanh bình. Tuy còn nghèo nhưng mỗi ngày lại thêm một bước tiến.
https://i1.wp.com/ichef.bbci.co.uk/news/624/cpsprodpb/12449/production/_92152847_160917143051_saigon_640x360_forum.trungtamasia.com_nocredit-1.jpg





Image copyright Forum Trung Tam Asia
Bao nhiêu độc giả cao niên còn nhớ lại những kỷ niệm êm đềm về thời gian ấy. Thí dụ bạn có thể đi bất cứ nơi nào một cách tự do từ Cà Mau ra tới tận Đông Hà. Mờ sáng lên xe buýt ra Vũng Tầu tắm biển hay buổi chiều đến ga xe lửa gần chợ Bến Thành mua vé đi Đà Lạt.
Chỉ trong chốc lát, con tầu bắt đầu phun khói, còi tầu rít lên trước khi khởi hành. Khi mặt trời hé rạng thì tầu chạy ngang bờ biển cát trắng Phan Rang, rẽ trái rồi ỳ ạch leo tuyến đường sắt có móc để trèo dốc lên Đà Lạt. Cái thú vui khi rời ga Đà Lạt (đẹp nhất Đông Nam Á) để mau tới “Café Tùng” hay “Phở Bằng” thưởng thức một ly cà phê sữa nóng thì khó có thể diễn tả được.
Với sự thông minh, cần cù của người dân Việt thì chỉ cần có hòa bình là tiến bộ trông thấy. Người dân lam lũ vất vả nhưng luôn vui với cuộc sống. Người nông phu không quản ngại thức khuya, dậy sớm để cầy sâu cuốc bẫm, chờ đợi cho tới ngày lúa vàng.
Tâm tư ấy luôn được phản ảnh trong thơ văn, âm nhạc Miền Nam trong thời gian này. Và khi thanh bình, con người lại đối xử với nhau cho hài hòa thì mọi việc – dù là tát cạn cả Biển Đông – cũng đều có thể ước mơ.
Tuy các kết quả phát triển kinh tế xã hội thời đó thật là nhỏ nhoi theo tiêu chuẩn ngày nay, nhưng là rất đáng kể so với các nước láng giềng lúc ấy như ngay cả Nam Hàn dưới thời Tổng thống Lý Thừa Vãn.
Miền Nam thực sự đã đặt được những viên gạch đầu tiên trong các năm 1955-1960 cho mô hình phát triển sau này của Nam Hàn dưới thời Tổng thống Phác Chính Hy. Xây dựng và phát triển trong hòa bình đã đưa Miền Nam tới chỗ vươn lên – kinh tế học gọi là điểm cất cánh (take-offĐ để trở thành một cường quốc tại Đông Nam Á.
Buổi bình minh của Nền Cộng Hòa (“The First Day”) thật là huy hoàng rực rỡ. Nhiều quan sát viên ngoại quốc cho rằng đây chính là “một cuộc cách mạng đã bị mất đi” (the lost revolution) của Miền Nam Việt Nam.
Bài viết của Giáo sư Tiến sỹ Nguyễn Tiến Hưng, trích dẫn từ cuốn sách ‘Khi Đồng Minh Nhảy Vào’ mới xuất bản tại Hoa Kỳ. Sinh năm 1935 ở Thanh Hóa, tác giả từng giữ chức Tổng trưởng Kế hoạch của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa kiêm cố vấn của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trước 1975 ở Sài Gòn. Hiện ông định cư tại Hoa Kỳ. Ông là tác giả cuốnKhi Đồng minh Tháo chạy và là đồng tác giả cuốn The Palace Files– Hồ sơ Dinh Độc Lập, viết cùng Jerrold L. Schecter bằng tiếng Anh.
http://www.bbc.com/vietnamese/forum-37815829



 Phóng Sự: Khánh thành bia tưởng niệm vinh danh Quân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa và Đồng Minh Úc Đại Lợi tại công viên MacCabe Park, Wollongong Úc châu


  • Người dân công khai tưởng niệm ngày mất của cố tổng thống Ngô Đình Diệm