Thứ Hai, 26 tháng 10, 2015

Hình ảnh tân Thủ tướng Canada gây sốt vì… quá quyến rũ




Hình ảnh tân Thủ tướng Canada gây sốt vì… quá quyến rũ

Dân trí Tân Thủ tướng Canada vừa chiến thắng trong cuộc bầu cử đã ngay lập tức lập nên nhiều kỷ lục, trong đó có kỷ lục là… “chính trị gia quyến rũ nhất thế giới”. Hiện tại, ông Justin Trudeau đang gây sốt tại nhiều quốc gia vì vẻ ngoài điển trai, hấp dẫn.

 
Tân Thủ tướng Canada - Justin Trudeau
Tân Thủ tướng Canada - Justin Trudeau
Khi những hình ảnh và thông tin đầu tiên xuất hiện trên mặt báo phương Tây về ngài Tân Thủ tướng Canada - Justin Trudeau, ngay lập tức, dư luận phương Tây, đặc biệt là… phái nữ đã “nóng lên” nhanh chóng vì diện mạo trẻ trung, mạnh mẽ, hấp dẫn, quyến rũ của ngài.
Ngay lập tức, các tờ tin tức cùng “đồng lòng” nhắc đến ngài tân Thủ tướng 43 tuổi bên cạnh cụm từ hiếm gặp trong chính trường, đó là… “chính trị gia quyến rũ nhất thế giới”.
Trước sự “cuồng nhiệt” thích thú mà dư luận dành cho ông Justin Trudeau, tờ tin tức Toronto Sun (Canada) đã có những dòng tin khá hài hước rằng: “Vâng, vâng, cảm ơn quý vị trên khắp thế giới đã chỉ ra cho người dân Canada chúng tôi. Giờ thì chúng tôi đã nhận ra rằng mình đã bầu chọn một người đàn ông thực sự nóng bỏng”.
Tờ Mirror và Daily Mail của Anh thì cùng sử dụng những cụm từ như “chính trị gia quyến rũ nhất thế giới” hay “kẻ cắp trái tim”… Các tờ báo lúc này đều lục lại những tấm ảnh hấp dẫn nhất của ông Justin Trudeau để làm thỏa cơn khát thông tin và hình ảnh mà công chúng dành cho vị chính trị gia trẻ đang “lên như diều gặp gió” trong chính trường Canada.
alt
Tờ Us Weekly (Mỹ) thì dùng tính từ “siêu hot” để nói về ông Justin Trudeau cùng những thành tích đáng nể của ông này trên chính trường. Sau khi tuyên thệ nhậm chức vào tháng tới, ở tuổi 43, ông Justin Trudeau sẽ trở thành Thủ tướng trẻ thứ hai trong lịch sử Canada và là Thủ tướng Canada đầu tiên có cha cũng từng là Thủ tướng.
Ngoài ra, Us Weekly còn dí dỏm chia sẻ thông tin về đời tư của ông Justin Trudeau rằng: “Thật lòng xin lỗi, chúng tôi buộc phải nói thêm rằng, người đàn ông này đã kết hôn và gắn bó suốt một thập kỷ qua với người phụ nữ có tên Sophie Gregoire, và họ đã có 3 người con”.
Những hình ảnh ấn tượng về tân Thủ tướng Canada đang khiến công chúng phương Tây xôn xao vì diện mạo… quá đỗi hấp dẫn:
alt
alt
Chính trị gia Justin Trudeau và vợ trong khoảnh khắc chiến thắng, khi ông Justin Trudeau chính thức trở thành tân Thủ tướng Canada.
Chính trị gia Justin Trudeau và vợ trong khoảnh khắc chiến thắng, khi ông Justin Trudeau chính thức trở thành tân Thủ tướng Canada.
Justin Trudeau hôn vợ sau khi chính thức được tuyên bố thắng cử.
Justin Trudeau hôn vợ sau khi chính thức được tuyên bố thắng cử.
Cựu Thủ tướng Canada - Pierre Trudeau cùng với các con trai theo thứ tự từ trái sang phải -Justin, Alexander và Michel trong một tấm ảnh gia đình chụp vào dịp Giáng sinh năm 1980. Lúc này, Justin Trudeau lên 8 tuổi. Về sau, cậu em trai Michel của Justin qua đời trong một trận lở tuyết năm 1998.
Cựu Thủ tướng Canada - Pierre Trudeau cùng với các con trai theo thứ tự từ trái sang phải -Justin, Alexander và Michel trong một tấm ảnh gia đình chụp vào dịp Giáng sinh năm 1980. Lúc này, Justin Trudeau lên 8 tuổi. Về sau, cậu em trai Michel của Justin qua đời trong một trận lở tuyết năm 1998.
Cậu bé Justin Trudeau sắp được gặp Thủ tướng Anh Margaret Thatcher khi cậu được cùng cha tới London hồi năm 1980.
Cậu bé Justin Trudeau sắp được gặp Thủ tướng Anh Margaret Thatcher khi cậu được cùng cha tới London hồi năm 1980.
Justin Trudeau và vợ - cô Sophie Gregoire trong ngày cưới hồi năm 2005. Xe cưới là một chiếc xe cổ yêu thích của cha chú rể. Cặp đôi gặp nhau lần đầu tiên khi Sophie còn đang học ở trường cùng với em trai của Justin - Michel Trudeau.
Justin Trudeau và vợ - cô Sophie Gregoire trong ngày cưới hồi năm 2005. Xe cưới là một chiếc xe cổ yêu thích của cha chú rể. Cặp đôi gặp nhau lần đầu tiên khi Sophie còn đang học ở trường cùng với em trai của Justin - Michel Trudeau.
Trudeau cầu hôn Sophie vào ngày 18/10/2004 - đúng vào ngày sinh nhật thứ 85 của cha ngài tân Thủ tướng (nếu cha ngài còn sống).
Trudeau cầu hôn Sophie vào ngày 18/10/2004 - đúng vào ngày sinh nhật thứ 85 của cha ngài tân Thủ tướng (nếu cha ngài còn sống).
Justin (phải) khoe ra cơ bắp và hình xăm cá tính khi tham gia một cuộc đấu quyền anh gây quỹ từ thiện cùng với đối thủ - Thượng nghị sĩ Đảng Bảo thủ Patrick Brazeau. Trong hình là tấm poster quảng bá cho trận đấu hồi năm 2012.
Justin (phải) khoe ra cơ bắp và hình xăm cá tính khi tham gia một cuộc đấu quyền anh gây quỹ từ thiện cùng với đối thủ - Thượng nghị sĩ Đảng Bảo thủ Patrick Brazeau. Trong hình là tấm poster quảng bá cho trận đấu hồi năm 2012.
Là một chính trị gia trẻ trung và sở hữu ngoại hình hấp dẫn, khỏe mạnh, Justin rất sẵn sàng chụp hình “bán khỏa thân”.
Là một chính trị gia trẻ trung và sở hữu ngoại hình hấp dẫn, khỏe mạnh, Justin rất sẵn sàng chụp hình “bán khỏa thân”.
Hai chính trị gia cùng lên bàn cân trước khi bắt đầu trận đấu quyền anh nhằm mục đích gây quỹ từ thiện.
Hai chính trị gia cùng lên bàn cân trước khi bắt đầu trận đấu quyền anh nhằm mục đích gây quỹ từ thiện.
Justin Trudeau đã đánh bại đối thủ Patrick Brazeau trong trận đấu hồi năm 2012.
Justin Trudeau đã đánh bại đối thủ Patrick Brazeau trong trận đấu hồi năm 2012.
Dường như trong cuộc đời mình, Justin Trudeau luôn song hành cùng với những chiến thắng.
Dường như trong cuộc đời mình, Justin Trudeau luôn song hành cùng với những chiến thắng.
Justin Trudeau cùng với vợ và 3 người con tại một cuộc gặp gỡ cử tri hồi đầu tháng 10.
Justin Trudeau cùng với vợ và 3 người con tại một cuộc gặp gỡ cử tri hồi đầu tháng 10.
Justin Trudeau và mẹ - bà Margaret - chia sẻ khoảnh khắc hạnh phúc trước khi ông đứng lên phát biểu sau chiến thắng.
Justin Trudeau và mẹ - bà Margaret - chia sẻ khoảnh khắc hạnh phúc trước khi ông đứng lên phát biểu sau chiến thắng.
Ông Justin Trudeau trong bài phát biểu chiến thắng.
Ông Justin Trudeau trong bài phát biểu chiến thắng.
Cựu Thủ tướng Pierre Trudeau và con trai Justin khi cậu bé mới lên 3 tuổi (trái). Justin xuất hiện trong một bộ phim truyền hình hồi năm 2007 (phải).
Cựu Thủ tướng Pierre Trudeau và con trai Justin khi cậu bé mới lên 3 tuổi (trái). Justin xuất hiện trong một bộ phim truyền hình hồi năm 2007 (phải).
Justin (trái) và hai người em trai đang ôm cha - cựu Thủ tướng Pierre Trudeau, sau khi ông Pierre trở về từ một chuyến công du nước ngoài hồi năm 1983. Mẹ của 3 cậu bé là bà Margaret Sinclair. Vợ chồng Thủ tướng Pierre đã chia tay sau 6 năm gắn bó, các con trai sống với cha.
Justin (trái) và hai người em trai đang ôm cha - cựu Thủ tướng Pierre Trudeau, sau khi ông Pierre trở về từ một chuyến công du nước ngoài hồi năm 1983. Mẹ của 3 cậu bé là bà Margaret Sinclair. Vợ chồng Thủ tướng Pierre đã chia tay sau 6 năm gắn bó, các con trai sống với cha.
Justin Trudeau gục đầu bên linh cữu cha hồi tháng 10/2000. Ông Pierre Trudeau thọ 80 tuổi.
Justin Trudeau gục đầu bên linh cữu cha hồi tháng 10/2000. Ông Pierre Trudeau thọ 80 tuổi.
Justin Trudeau đi hái bí ngô cùng với vợ - cô Sophie, con gái Ella-Grace và hai con trai Xavier và Hadrien vào giữa tháng 10 này, chỉ vài ngày sau đó, Justin chính thức được tuyên bố giành chiến thắng trong cuộc bầu cử Thủ tướng Canada.
Justin Trudeau đi hái bí ngô cùng với vợ - cô Sophie, con gái Ella-Grace và hai con trai Xavier và Hadrien vào giữa tháng 10 này, chỉ vài ngày sau đó, Justin chính thức được tuyên bố giành chiến thắng trong cuộc bầu cử Thủ tướng Canada.
 
Justin Trudeau trong trận đấu quyền anh gây quỹ từ thiện
Bích Ngọc
Tổng hợp

Thứ Bảy, 24 tháng 10, 2015

Phi Vụ Rescue - Tiễn nhau ngàn dặm cũng chia phôi

From: quangvtruong@live.com.au
Subject: Re: Phi Vụ Rescue - Tiễn nhau ngàn dặm cũng chia phôi.
Date: Sun, 18 Oct 2015 08:20:17 +1100

Emoji

Phi Vụ Rescue - Tiễn nhau ngàn dặm cũng chia phôi



Phi Vụ Rescue - Tiễn nhau ngàn dặm cũng chia phôi

LTS: Bao năm đã trôi qua như một thoáng mây bay, với tuổi đời chồng chất và mái tóc đã ngã mầu sương khói . Ký ức của một thời chinh chiến giờ đây lập loè như những ánh mắt hoả châu . Mơ ước thật nhiều tưởng chừng như vô hạn nhưng cuối đời ngậm ngùi tìm lại chẳng có là bao . Đây là một câu chuyện có thật nhưng chẳng may ngày tháng, danh xưng, địa danh và tên người cũng phai mờ theo năm tháng . Nếu có điều chi sơ sót, kính mong quý độc giả niệm tình tha thứ cho.

Thành thật cám ơn NT Lê Văn Sùng và Phi Vân 5, Nguyễn Văn Bé đã cho biết thêm chi tiết về ngày tháng cũng như tên của Phi Hành Đoàn đã vị quốc vong thân tại phía Nam Sầm Giang. Hoa Tiêu là Th/U Liêu Văn Điều, Quan Sát Viên là Đ/U Nguyễn Ngọc Đạm, thuộc PĐ 116. Cả hai đang làm việc với Sư Đoàn 7 Bộ Binh, trong lúc xuống thấp để quan sát công sự và hầm hố của địch đã bị trúng đạn đại liên, phi cơ rớt liền tại chỗ.


Firebird24

Phi đoàn tôi có bốn phi đội nhưng lúc nào cũng có một phi đội được đi phép nên chỉ có ba phi đội túc trực để tham dự những cuộc hành quân ở vùng IV chiến thuật mà thôi . Mỗi phi đội sau khi về phép, ngày đầu tiên đi bay lại sẽ đảm nhiệm những phi vụ có ưu tiên 1, ngày hôm sau sẽ là 2, và rồi là 3, 4 và 5 . Có nghĩa là đi bay 5 ngày, gồm cả trực bay đêm sẽ đuợc nghỉ 2 ngày . Nếu chọn nghỉ ở Saigon, sẽ có trực thăng đưa đón, những phi hành đoàn mà quê quán ở vùng IV thì phải tự túc hoặc xin đi quá giang những phi cơ trực thăng khác có phi vụ bay ngang quê nhà mình . Nếu quê nhà ở vùng ngoài thì nghỉ ngơi tại chỗ
.
Hình như đây là sự sắp xếp có từ thời cố Chuẩn Tướng Ánh để các phi hành đoàn Trực Thăng có đủ thời gian nghỉ dưỡng sức sau những ngày bay hành quân dài đăng đẳng . Bay trực thăng thời chinh chiến là phải làm cho hết việc chứ không có giờ giấc ấn định gì cả . Thường thì những đơn vị Bộ Binh xử dụng trực thăng ít khi nào cho về sớm . Sáu giờ sáng, Sĩ Quan Trực đánh thức dậy đi bay, chiều về đến phi trường lúc 7, 8 giờ tối là chuyện bình thường .Ưu tiên từ 1 tới 4 là bay hành quân với hợp đoàn, mỗi hợp đoàn thường có ít nhất 1 trực thăng C&C (Control and Command), 3 trực thăng võ trang và 6 trực thăng để chở quân, tiếp tế v.v...

Ưu tiên 5 thường là những phi vụ bay một mình, có thể là bay biệt phái cho tiểu khu, chi khu, trực bay Rescue v.v... ngày hôm sau xuống ca sẽ được nghỉ 2 ngày.

Hôm ấy là ngày 26 tháng 1 năm 1973, hôm sau là ngày ký Hiệp Định Paris. Tôi được cắt bay làm hoa tiêu phụ cùng trực phi vụ Rescue với Tr/U Các từ 6 giờ sáng đến 6 giờ chiều . Phi vụ Rescue tương đối nhàn hạ vì chỉ khi nào có phi cơ bị rớt ở vùng IV thì Phi Hành Đoàn (PHĐ) Rescue mới phải cất cánh lên vùng và bằng bất cứ giá nào cũng phải bốc PHĐ lâm nạn (còn sống hay đã tử trận) về căn cứ theo truyền thống "KQ không bỏ anh em, không bỏ bạn bè . Có một vài trường hợp đã xảy ra khi chiếc Rescue vào vùng cũng bị bắn rớt luôn ...Bộ Binh Hoa Kỳ vừa chuyển giao cho căn cứ tôi một chiếc Rescue sơn mầu trắng tinh, trang bị đầy đủ dụng cụ cho những phi vụ rescue, nhất là hai dấu Hồng Thập Tự thật lớn mầu đỏ tươi sơn hai bên cửa.

Lúc đầu, những phi công mới về nước được vài tháng đến khoảng 1 năm như tôi đều dành nhau đi bay để lấy giờ và học hỏi kinh nghiệm chiến trường của những phi công đàn anh trong phi đoàn . Chúng tôi là thành phần "điếc không sợ súng" vì khi hợp đoàn vào bãi đáp để đổ quân bị bắn tả tơi, chúng tôi có nghe gì đâu vẻ mặt vẫn bình thản, đôi khi lại nở một nụ cười ngớ ngẩn trong lúc mặt của trưởng phi cơ thì tái mét.

Có độ vài trăm giờ bay, "điếc bắt đầu nghe được tiếng súng", nhất là khi đạn trúng vào thân tầu nghe "lụp bụp" . Thời điểm đó SA7 (hoả tiễn tầm nhiệt) được biết đến nhiều hơn trên khắp các chiến trường ở miền Nam Việt Nam, tất cả trực thăng của Bộ Binh Hoa Kỳ đều được gắn thêm "ống vố" (loa che hoặc giảm nhiệt) vào ống thoát nhiệt .


Đi bay hành quân chung với những phi đoàn của Bộ Binh Hoa Kỳ, chúng tôi nhìn những chiếc trực thăng có "ống vố" của họ một cách ganh tỵ nhưng cũng mong là "ống vố" sẽ sớm được trang bị cho tất cả những phi đoàn trực thăng của KQVNCH.

Dù biết "Nhân sinh từ cổ thuỳ vô tử" nhưng phàm là con người ai cũng sợ chết . Bản thân tôi, hai cảm nghĩ "sợ" và "không sợ" đối đầu nhau từng ngày, từng giờ . "Sợ" thì làm được gì, mỗi sáng cũng vẫn phải thức dậy sớm đi bay, làm sao mình có thể né tránh được "hòn tên mũi đạn", mà lỡ có trúng đạn chưa chắc đã bị thương, mà bị thương chưa chắc đã chết ...thôi thì phó mặc cho Trời, từ nay "không sợ" nữa ...

Cả ngày PHD trực Rescue cứ "ngồi chơi xơi nước", hết ra lại vào, đọc sách, đánh cờ v.v...chỉ mong cho xuống ca là về tắm rửa, ra phố du dương ...

Khoảng 4:30 chiều, chuông điện thoại reng dồn dập, PHĐ Rescue sợ xanh mặt (lại "sợ" nữa) . Hành Quân Chiến Cuộc báo:

"Có một chiếc L-19 vừa bị bắn rớt ở Sầm Giang, PHĐ cất cánh lên vùng gấp, liên lạc Paddy (danh hiệu của đài Kiểm Báo Không Lưu vùng IV Chiến Thuật) để lấy thêm chi tiết và toạ độ".

Năm phút sau, chúng tôi đã cất cánh và bay thẳng về hướng Chi Khu Sầm Giang (Ba Dừa). Những địa danh nổi tiếng nguy hiểm như Sầm Giang, Kinh Bà Bèo, Mỹ phước Tây, Cai Lậy, Cái Bè, Ấp Bắc v.v... chúng tôi đều biết nên phải rất cẩn thận

. Tôi đổi sang tần số Paddy :

- "Paddy, đây Mekong, cất cánh 5 phút đi Sầm Giang, xin bạn cho biết chi tiết và toạ độ"

- "Mekong, đây Paddy, Bộ Binh báo L-19 down phía Nam Sầm Giang, không có toạ độ chính xác - sẽ báo khi có thêm chi tiết"

- "Paddy, đây Mekong, khi đến sẽ làm holding về hướng Nam của Sầm Giang trên sông Tiền Giang, sẽ liên lạc với bạn sau"

Trời đã về chiều, những tia nắng le lói còn lại trong ngày như đang giãy chết trên những mảnh ruộng xanh mướt đến tận chân trời, khói lam chiều bốc lên từ những mái tranh xa tít tạo thành một bức hoạ đồng quê tuyệt đẹp làm thổn thức lòng kẻ thi nhân . Con sông Tiền vẫn ngàn đời lặng lẽ trôi ra biển, con trâu già vẫn cặm cụi bên bờ ruộng, không một lời than oán .Chẳng ai biết hoặc để ý gì đến tính mạng của PHĐ lâm nạn ngoại trừ những người đồng đội giờ đang cố gắng tìm kiếm họ .

- "Paddy, đây Mekong, holding phía Nam Sam Giang chờ lệnh . Không có dấu vết gì của PHĐ lâm nạn" . Tr/u Các báo cáo với Paddy .

- “Mekong, đây Paddy, cố gắng quan sát đi bạn - lệnh của Chuẩn Tướng Tần là bằng mọi giá phải cứu PHĐ lâm nạn về - sống hay chết - over" .

- “Paddy, đây Mekong, 5/5 - sẽ liên lạc sau” .

Mười phút sau, vòng holding của chiếc Rescue lớn dần vào sâu trong bờ Nam của Sầm Giang . Bốn cặp mắt của chúng tôi như muốn xuyên thủng cảnh vật chung quanh một địa điểm tưởng tượng nào đó về phía Nam của Chi Khu Sầm Giang . Mặt Trời xuống thấp dần ...thấp dần, làm sao chúng tôi có thể xuống cứu PHĐ lâm nạn trong đêm tối ?

- "Ồ !ồ! Hình như có ánh sáng từ dưới chiếu lên hướng 4 giờ" . Tiếng người Cơ Phi mừng rỡ vang lên trong intercome .

Làm thêm một vòng nữa sâu hơn vào bờ Nam với cao độ khoảng 1500 bộ . Và lần này quả thực chúng tôi đều thấy có ánh sáng ở dưới chiếu lên .
Tr/u Các mừng rỡ gọi Paddy :

-"Paddy, đây Mekong, chúng tôi thấy có ánh sáng ở dưới chiếu lên - có lẽ là kiếng trong Survival Kit của PHĐ còn sống sót ở dưới đất - báo cáo chờ lệnh - over"

Độ khoảng 5 phút sau ...Paddy gọi lại:

-"Mekong, đây Paddy ...Trời gần tối rồi bạn có cần Gunship không? Lệnh Chuẩn Tướng Tần là bằng mọi giá phải cứu PHĐ lâm nạn, trưởng phi cơ quyết định - over"

Tr/U Các đăm chiêu hỏi tôi:

- “Ông nghĩ sao? Trời tối rồi, chờ Gunship lên sợ không kịp, thôi chắc mình xuống đại cho rồi"

- "Tôi cũng nghĩ như anh, chắc không sao đâu". Tôi trả lời thật nhanh vì nóng lòng muốn cứu những người bạn đồng đội .

"Paddy, đây Mekong, tôi sẽ xuống thử xem sao, bạn request gunship chuẩn bị sẵn sàng khi cần". Tr/u Các dặn dò Paddy .

- "Ông cầm hờ cần lái với tôi, lỡ có chuyện gì ông còn đỡ kịp . Tôi sẽ xuống low-level từ Đông Nam lên Tây Bắc . Lúc ra 180 độ, low-level cho tới gần bờ sông sẽ múc lên hết cỡ ". Tr/U Các cho tôi biết chi tiết về đường vào và ra.

Từ trên cao nhìn xuống, từ Nam lên Bắc, địa hình này giống như một chữ "U" ngược mà chỗ chúng tôi thấy ánh sáng của kiếng chiếu là gần đáy chữ "U". Ba mặt của chữ "U" ngược là ba hàng cây tuy không cao lắm nhưng có vẻ rậm rạp, đáy của chữ "U" ngược này độ khoảng ba trăm thước bề ngang và hai cạnh kia khá dài khoảng ba cây số . Hướng trống trải duy nhất là trục Nam/Bắc từ bờ sông Tiền Giang .

-"Paddy, đây Mekong, bây giờ tôi bắt đầu xuống ...". Tr/U Các thông báo với Paddy lần cuối ...

Từ 1500 bộ , chiếc trực thăng sơn mầu tang trắng nhào xuống như một con ó đang chuẩn bị vồ mồi, chỉ trong tíc tắc tôi đã thấy những mảng cỏ xanh mướt vùn vụt biến mất sát dưới chân mình . Tr/U Các cố gắng bay giống hình chữ "chi" để tránh đạn nhưng vẫn dán mắt về hướng có ánh sáng của kiếng chiếu lúc nãy .

Bất chợt trước mắt chúng tôi cách khoảng 300 thước, phần đuôi của chiếc L-19 nhô lên rõ ràng giữa ruộng . Vừa mừng, vừa lo nhưng tại sao không thấy PHĐ đâu cả ? Vậy thì ai chiếu kiếng ? Có lẽ chúng tôi đã bị địch lừa? Chỉ trong tíc tắc với bao nhiêu câu hỏi xoay vòng mà không có câu trả lời...

Không ai bảo ai nhưng nhìn đầu chiếc phi cơ cắm sâu xuống ruộng như vậy, PHĐ có lẽ khó mà sống sót.
Còn khoảng 200 … rồi 100 thước… khoảng cách vừa đủ để chúng tôi có thể nhìn thấy một người mặc đồ bay mầu xám nằm úp mặt xuống ruộng...dường như bất động...có lẽ đã chết...

Và đúng giây phút đó... đạn AK nổ vang rền như pháo Tết từ ba mặt của chữ "U" ngược định mệnh này .
Tôi nghe những tiếng lụp bụp khô khan, chắc chắn là tầu đã bị trúng đạn nhưng không biết chắc ở đâu thôi, có lẽ ở đằng sau đuôi.

- "Chết mẹ". Tiếng Tr/U Các hét trong intercom .

Tôi tưởng Tr/U Các bị trúng đạn nên ghì cần lái chặt hơn nhưng anh đã nhanh nhẹn quẹo gắt 180 độ để bay ra hướng bờ sông . Chiếc tầu vẫn lướt nhanh sát đất, tất cả đồng hồ phi cụ ở phần xanh an toàn, không nghe tiếng báo động trong helmet .

Khi lấy đủ cao độ an toàn khoảng 1500 bộ trên bờ sông Tiền Giang, chúng tôi kiểm soát lại tất cả các phi kế, may mắn thay chúng vẫn ở mức an toàn.

- "Mọi người an toàn hết? Có ai bị gì không?" Tr/U Các lo lắng hỏi.

Sau khi biết tình trạng của PHĐ và phi cơ, Tr/U Các liên lạc Paddy:

-"Paddy đây Mekong, chúng tôi bị heavy ground fire từ ba phía khi cách địa điểm phi cơ lâm nạn khoảng 100 thước - over"

- "Mekong đây Paddy, PHĐ của Mekong ra sao? Tình trạng phi cơ vẫn còn bay được? - over" Paddy hỏi.

- "Paddy đây Mekong, có lẽ trúng vài viên ở sau đuôi, PHĐ OK, mọi phi kế vẫn ở mức an toàn - over". Tr/u Các trả lời.

- "Mekong đây Paddy, tình trạng của PHĐ lâm nạn ra sao ?- over" Paddy hỏi.

- "Paddy đây Mekong, theo như chúng tôi nhìn thấy PHĐ lâm nạn chắc không còn ai sống sót. Thấy một người mặc đồ bay xám nằm úp mặt bất động cách chỗ chiếc L-19 cắm sâu xuống ruộng khoảng 20 thước. Chúng muốn lừa để bắn rớt chiếc Rescue - over". Tr/U Các thận trọng trả lời.

- "Mekong đây Paddy, bạn giữ tầng số, sẽ liên lạc Hành Quân Chiến Cuộc(HQCC) và gọi lại cho bạn ngay - over" . Paddy dặn dò.

Buổi chiều xuống thấp hơn, chúng tôi kiên nhẫn làm vòng holding phía bờ Nam của Sầm Giang chờ lệnh .
Khoảng 5 phút sau...

- "Mekong đây Paddy, HQCC gởi 2 chiếc Gunship của PD217 lên cover bạn vào pick up xác của PHĐ tử nạn về bằng mọi giá. Đây là lệnh của Ch/T Tần. Hai chiếc Gunship đã cất cánh được 5 phút rồi, bạn liên lạc qua tầng số nhà - over". Paddy trả lời ngắn và gọn.

- "Paddy đây Mekong, 5/5 liên lạc với Hỏa Điểu qua tầng số nhà - over".

Vừa đổi sang tầng số VHF nhà, tôi đã nghe tiếng Tr/U Huy(lead gunship) trên tầng số.

- "Mekong đây 31, ETA(estimated time of arrival) 10 phút, bạn cho biết chi tiết về target, địch và bạn ra sao để gunship có thể escort bạn ra vào một cách an toàn, Trời đã tối rồi - over". Giọng Tr/u Huy đầy vẻ lo lắng.

Sau khi Tr/U Các báo cáo cặn kẽ mọi chi tiết về địa hình, vị trí của địch và vị trí xác của PHĐ tử nạn. Chúng tôi quyết định là hai chiếc gunship sẽ xuống trước giữ khoảng 500 bộ, giữ vòng tròn nhỏ để bảo vệ cho nhau, dùng minigun bắn vào những rặng cây bao quanh chỗ phi cơ lâm nạn.

Trong lúc đó chiếc Rescue sẽ bay sát mặt ruộng từ Đông Nam lên Tây Bắc, đáp càng gần vị trí PHĐ tử nạn càng tốt, quay ngang hoặc quay 180 độ để khi lấy được xác sẽ chúi đầu lấy vận tốc tối đa (speed-over-attitude) rồi múc ngược bay ra phía bờ sông Tiền Giang.

Hai chiếc gunship sẽ bay theo chiếc Rescue và tiếp tục bắn vào những hàng cây rậm rạp ở hai bên.


Hai người Cơ Phi và Y Tá Phi Hành sẽ phải nhẩy xuống ruộng và kéo xác PHĐ tử nạn lên phi cơ.
Mặc dầu chúng tôi đã bàn tính kỹ lưỡng không thiếu một chi tiết nào nhưng "mưu sự tại nhân" mà "thành sự tại Thiên". Không ai nói với ai một lời nào nhưng chắc chắn nỗi lo âu đều giống nhau.

Từ nãy đến giờ, bọn địch đã có đủ thời giờ chuẩn bị cho round 2 vì bọn chúng có thể nhìn thấy chúng tôi vẫn bay vòng vòng ở trên Trời.

Chúng tôi nghe Tr/U Huy liên lạc và báo cáo với Paddy về chi tiết yểm trợ cũng như lấy xác của PHĐ tử nạn ra". Vài phút sau HQCC cho chúng tôi green light và chúc chúng tôi may mắn.

"Mọi người có câu hỏi gì không? Khi Gunship xuống, khoảng 30 giây sau là mình sẽ xuống theo". Tiếng Tr/u Các trong intercom.

- "32, Mekong đây 31, mọi người sẵn sàng? 32 theo 31 xuống bây giờ, Mekong chờ 20 giây- over". Tiếng Tr/u Huy dặn dò lần chót.

Hai chiếc gunship chúi xuống như hai con Ó bắt mồi, chỉ trong một thoáng đã xuống bờ sông bắt đầu của chữ U ngược . Tôi cầm hờ cần lái với Tr/U Các...và chiếc Rescue chúi xuống như một mũi tên bay sát mặt ruộng, chỉ trong một tíc tắc thật mơ hồ, chiếc Rescue đã gần như ở dưới bụng hai chiếc gunship.


Độ chừng 500 thước đến chỗ chiếc L-19 rớt, tôi bắt đầu nghe thấy tiếng Minigun hú lên từng hồi thăm chừng vào hai hàng cây ở bên hông chúng tôi.

Càng đến gần, tiếng Minigun càng trở nên hung bạo hơn...sẵng sàng chơi xả láng với đich quân.

Rồi 300, 200...rồi 100 thước rồi...Tiếng Minigun trở thành điên cuồng bất tận...Hai chiếc Gunship gào thét trên đầu chúng tôi, thật là khó mà có thể phân biệt được tiếng súng nổ của Gunship và của địch trong một khung cảnh hỗn loạn như bây giờ.

Thỉnh thoảng tôi thấy những vệt đạn bắn quá hay hết tầm tạo thành những bọt nước văng lên khỏi mặt ruộng trước mũi hoặc bên hông phi cơ trên đường vào. Chắc chắn là đạn địch vì Gunship chỉ bắn vào những hàng cây 3 mặt của chữ "U" ngược như đã đồng ý từ trước.

Đúng là một phi công đầy kinh nghiệm chiến trường trong những lần đổ quân với hợp đoàn. Từ 120 knots sát mặt đất, Tr/u Các giựt ngược cần lái, "bơm" collective pitch và đạp hai pedals một cách thiện nghệ...con ngựa bất kham phải thần phục người chủ và ngừng hẳn , đầu quay ngang gần 180 độ như đã dự tính ...

Nhanh như cắt, người Cơ phi và Y Tá Phi Hành đã nhẩy ra khỏi phi cơ và lội bì bõm về chỗ người mặc đồ bay xám nằm úp mặt xuống ruộng. Nhờ có hai chiếc Gunship quần thảo trên đầu mà lòng chúng tôi ấm hơn vì chúng tôi "không bỏ anh em, không bỏ bạn bè" .

Chiếc Rescue to lớn, cồng kềnh với hai phi công ngồi bên trong và đang nằm bất động, trống trải giữa ruộng, hai PHĐ đang ì ạch lội dưới ruộng là một mục tiêu quá dễ dàng cho những địch quân đang núp trong những bụi cây rậm rạp. Chúng tôi sợ nhất là B-40 vì vị trí phi cơ quá gần với những hàng cây chung quanh.

Mặc dù hai chiếc Gunship đang cố gắng hết sức để bảo vệ chúng tôi nhưng những vệt đạn quá hay hết tầm vẫn tạo nên những cột nước văng tung tóe chung quanh chiếc Rescue. Chúng tôi gồng mình ngồi yên đó để chờ...và để chờ...thôi thì cầu Trời cho đạn tránh mình...

Tất cả chỉ diễn ra trong vòng vài phút mà chúng tôi có cảm tưởng như là lâu lắm ...

Nhờ Ơn Trên, cuối cùng xác của PHĐ tử nạn cũng được kéo lên đặt giữa lòng tầu. Tr/u Các kéo hết Collective Pitch, chúi đầu bay sát mặt ruộng, lấy vận tốc tôi đa rồi múc ngược lên cao bỏ lại sau lưng hai chiếc Gunship và những tiếng đạn thưa dần theo sau...

Chỉ độ một phút sau, hai chiếc Gunship cũng an toàn rời vùng theo chiếc Rescue.

- "Paddy đây Mekong"
- "Mekong đây Paddy, nghe bạn 5/5- over "
- "Paddy đây Mekong, phi vụ hoàn tất, đã lấy được xác, rời vùng với hai Gunship, nhờ check với HQCC để đáp ở đâu - over". Tr/u Các báo cáo với Paddy.

Khoảng 2 phút sau, Paddy gọi lại.

- "Mekong đây Paddy, HQCC muốn bạn đáp ở dưới chân Bình Thủy Tower, sẽ có xe Cứu Thương chờ sẵn - over "
Trời đã về chiều, một đêm thật buồn không trăng sao, rải rác đâu đây lấp lánh ánh đèn tỉnh nhỏ như những con đom đóm đang bay lơ lửng trong đêm. Tr/U Các đã quá mệt mỏi nên giao cần lái cho tôi bay về Cần Thơ. Hít một hơi dài, điếu thuốc Capstan như đốt phỏng môi tôi, chất nhựa của thuốc cho tôi một cảm giác dễ chịu nhưng cũng mang máng một chút gì cay đắng...

Cuộc đời của một người lính trong thời chinh chiến quả thật rất ngắn ngủi. Đã hơn một năm đi bay hành quân, hầu như ngày nào tôi cũng thấy xác của những ngưòi lính chiến đền nợ nước. "Chết là hết", đơn sơ, giản dị với câu nói đó nhưng thật sự niềm thương tiếc của những người ở lại sẽ không bao giờ hết, không bao giờ nguôi ngoai.

Tôi quay lại nhìn xác của người "đàn anh" (Đại Úy Đạm), chung mầu cờ sắc áo với tôi, anh nằm đó với giấc mơ dài. Trong những giây phút kinh hoàng cuối cùng trước khi phi cơ đâm xuống đất, anh đã nghĩ gì? Anh có đủ thời giờ để sợ nữa không ? Anh có biết là anh sẽ chết không ?

Anh nằm nghiêng úp mặt xuống sàn tàu, mặt anh dính bê bết bùn, giầy vớ, súng đạn cá nhân, tiền bạc, đồng hồ (vệt da trắng trên cổ tay so với mầu da xạm năng của cánh tay) cho biết là bọn du kích đã lột anh sạch sẽ, chỉ còn chiếc áo lưới rỗng tuếch mặc trên người. Bọn chúng đã tìm ra chỗ chiếc L-19 rớt trước chúng tôi, kéo xác anh ra nằm giữa ruộng và chờ để bắn rớt chiếc Rescue.

Đang taxi về phía chân Tower Bình Thủy, tôi đã thấy một xe Cứu Thương, một xe Cứu Hỏa và một số khoảng chín, mười người mặc quân phục, lẫn lộn với một hai người đàn bà trong đó. Vừa đặt tàu xuống, một người thiếu phụ độ khoảng 30 tuổi trở lại, tóc bay tơi tả dưới sức mạnh của cánh quạt trực thăng, hất hải, vẻ mặt trông rất thiểu não chạy như bay đến ôm xác của người Sĩ Quan đang nằm trong lòng tàu...

Tiếng khóc, tiếng gào thét vật vã của người thiếu phụ mà giờ đây đã trở thành góa phụ làm tôi ứa lệ...bao năm đã trôi qua, dĩ vãng giờ chỉ là một chuỗi phôi pha, mờ ảo nhưng tôi vẫn nhớ mãi phi vụ này và...mắt tôi vẫn cay cay...

Vì xác của Th/U Điều còn kẹt trong phi cơ và phần đầu máy bị chôn sâu dưới đất nên chúng tôi không thể đem xác của anh về. Theo như lời kể lại, gia đình anh là một gia đình có tiếng tăm ở Mỹ Tho nên bọn du kích muốn đòi tiền chuộc. Chúng đào xác của anh lên, chặt đầu thi thể và cắm trên một cọc tre, bên dưới chúng có treo một tờ giấy như sau:

"Trực Thăng, Khu Trục thì tha
Bà Già Quan Sát lột da chặt đầu"


Phần thi thể còn lại, bọn chúng thả dưới sông nhưng canh gác thật kỹ không cho người nhà của Th/U Điều lại lấy xác. Vài ngày sau khi đã nhận tiền chuộc, người nhà của Th/U Điều lại lấy xác đem về chôn cất nhưng phần đầu của thi thể bọn chúng vẫn giữ lại để đòi thêm tiền chuộc. Cuối cùng thi thể của Th/U Điều đã được cải táng sau khi gia đình của anh chuộc được phần thi thể còn lại của Th/U Điều.

Mẹ đón con về cuối đường bay
Mờ trong sương khói dáng con gầy
Nợ nước tình nhà con đền đáp
Nghìn thu yên giấc hãy ngủ say...

Tiễn nhau ngàn dặm cũng chia phôi
Vĩnh biệt một câu ngỡ đủ rồi
Vạn lời chưa nói sao còn thiếu
Nhắn gió về anh cõi xa xôi...


Firebird24
hoiquanphidung.com

Những Cánh Thép Ngày Trước...

From: than.phong.vic@gmail.com
Date: Sat, 24 Oct 2015 18:43:34 +1100
Subject:  FW: Nhung canh thep ngay truoc
To:






 
Như một lời tri ân chân thành đến tất cả các chiến sĩ Không Quân của KLVNCH đã ngày đêm tích cực yểm trợ Liên Đoàn 81 BCND chiến đấu để bảo vệ quê hương gấm vóc và hai chữ "Tự Do" ...


Cho tôi xin dù chỉ một lần
Mơ làm cánh én giữa trời Xuân
Tang bồng hồ thỉ mang chí lớn
Rạng giống Tiên Rồng lính Không Quân

Firebird24
 

Những Cánh Thép Ngày Trước...

Công ty tôi đang làm nằm trên con đường Mirama Road, sát nách một phi trường lớn của Thuỷ Quân Lục Chiến Mỹ, nên bắt buộc mỗi ngày tôi phải đi và về trên con đường này. Và ngày nào cũng vậy, lộ trình của tôi đều đi qua khu bảo tàng Không Quân chứa đầy các loại phi cơ, từ thời có lỗ sĩ, từ thời tôi chưa được sinh ra trên cõi đời, cho đến những chiếc phi cơ của thời Đệ Nhị Thế Chiến và thời chiến tranh Việt Nam.

Cái khu bảo tàng này lại nằm sát đường chỉ cách một cái hàng rào bằng lưới chống B-40 (chain link fence). Mỗi lần đi qua khu vực này, tôi đều lái xe chậm lại và không khỏi liếc nhìn vào đó dù tôi đã quá quen thuộc với những loại phi cơ đang nằm phơi trên bãi đậu.

Từ những chiếc Avia B 534, Bell P-39 Airacobra từ những năm 1934...đến những chiếc Gruman Hellcat hay Bearcat, những chiếc F-5, Skyraider cho đến những chiếc trực thăng trái chuối CH-46 đầu tiên, H-34 nặng nề, chiếc UH1, Cobra ...và cả chiếc L-19 Bird Dog mong manh rất quen thuộc với tôi. Ngoài ra mỗi ngày tôi còn phải nghe tiếng gầm rú của các loại phi cơ chiến đấu cất cánh và hạ cánh mỗi giờ, những ngày không khí ẩm thấp, tiếng cánh quạt của nhiều loại trực thăng nặng nề vang dội trên đầu đã thực sự gây cho tôi nhiều ấn tượng nhất.

Vì đó là những tiếng động đã quá quen thuộc với tôi hầu như đã tiềm ẩn trong trí nhớ tôi và không thể xóa nó đi được dù 37 năm đã trôi qua kể từ khi tôi giã từ cái nghiệp lính.

Năm nay tôi đã bước vào tuổi 75, vẫn phải đi làm, ngoài việc tiếp tục kiếm sống qua ngày trên mảnh đất tạm dung nầy, còn để ngăn ngừa sự thoái hóa của bộ óc càng ngày càng già nua ...để rồi hủy hoại hết những điều cần phải nhớ. Tuổi già thì thường hay nói nhiều, nhớ nhiều về dĩ vãng. Thật ra con cháu tôi, chúng cũng thông cảm vì giờ đây tương lai của tôi, chỉ là đang bước dần tôi trạm cuối cùng, là cái nghĩa trang lạnh lùng nào đó.

Tôi là một người lính sống sót sau 15 năm khói lửa, 13 năm tù đày trong các trại tù khổ sai của cộng sản việt nam từ Bắc chí Nam, từ trại kỷ luật đến xà lim Chí Hòa. Thử hỏi cuộc đời của tôi còn lại gì ?

Cái gia tài của người lính như tôi còn lại há không phải là quá khứ của 15 năm trong quân đội hay sao? 15 năm trong một đời người như chúng ta, những người lính đã sống qua cuộc chiến ác liệt, đầy máu và nước mắt, vinh có nhục có và đôi khi buồn nhiều hơn vui, dù muốn quên cũng khó quên.

Ngay từ những năm đầu ở Trung Học, tôi đã rất ngưỡng mộ Không Quân dù chỉ qua hình ảnh của các anh phi công Mỹ, Pháp và Anh trong thời kỳ Thế Chiến thứ hai và trong thời gian chiến tranh Việt Nam vào những năm 50. Sau này khi bước chân vào bậc Trung Học Đệ Nhất Cấp tôi đã có ý định sau khi tốt nghiệp Trung Học tôi sẽ xin gia nhập vào Không Quân Việt Nam. Những mộng không thành vì khi khám sức khỏe ở Bệnh Viện Cộng Hòa tôi mới phát giác ra là thị lực của con mắt phải của tôi chỉ có 7/10. Thế là vỡ mộng, nhìn bạn bè rộn ràng lên đường gia nhập Quân Chủng Không Quân mà thấy tủi thân. Cuối cùng đành phải chấp nhận cái thân phận chui bờ chui bụi của cái lính đánh trộm là Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù. May cũng nhờ quen thuộc lối đánh trộm (đôi khi chúng tôi cũng ăn trộm được nhiều kho vũ khí và lương thực của địch) nên cũng có chút tiếng tăm và chiến công góp phần với các quân binh chủng bạn, đã làm cho kẻ địch suy yếu. Nhưng nếu nói đến cái đơn vị bé tí teo và những chiến tích mà chúng tôi đã lập được cũng nhờ những đôi cánh thép, như một thứ bùa hộ mạng, như cái ô dù che chở trên đầu chúng tôi. Những đôi cánh thép đã mang chúng tôi đi hầu hết các chiến trường (ngoại trừ vùng IV chiến thuật vì lính BCD 81 không biết bơi).

Đã bao lần không quản ngại trước lưới lửa phòng không của địch tua tủa như pháo bông để mang chúng tôi và xác đồng đội ra khỏi vùng vây địch. Qua hàng trăm cuộc hành quân, những đôi cánh thép đã mặc nhiên như gắn ngay sau lưng chúng tôi, đã chắp cho chúng tôi đôi cánh thép. Đơn vị của chúng tôi đã gắn liền với Quân Chủng Không Quân của các bạn.

Xin cho chúng tôi được hân hạnh nhận các chiến hữu Không Quân là bạn để dễ bể tâm sự và để nói hết những điều cần nói sau 37 năm dài. Vì không nói ra lúc này sẽ không có dịp nào để nói, giữa chúng ta từ lâu đã cư xử với nhau rất mực huynh đệ chi binh, nhưng cũng đầy hào khí giang hồ. Tôi sẽ không nhắc lại những chiến công oanh liệt của các bạn hay của chúng tôi. Tôi chỉ muốn nhắc lại những người đi vào chiến tranh với dáng vẻ hào hoa phong nhã, lúc nào quân phục cũng sạch bóng, trang bị nhẹ nhàng không giống như đám chúng tôi bao giờ cũng vậy hễ xuất quân là quần áo rằn ri, lôi thôi lếch thếch...nào là ba lô, súng ngắn, súng dài, giây nhợ quanh người, lựu đạn lủng lẳng đằng truớc, đằng sau. Mỗi lần được bốc ra khỏi vùng hành quân thì ôi thôi khỏi nói, dù có yêu tôi cách mấy cũng chỉ đúng xa mà chào mừng chứ chưa ai dám ôm hôn tôi thắm thiết. Mười lăm ngày hay một tháng luồn lách qua bờ bụi, lên xuống đồi núi dưới cái nắng nóng ẩm, mồ hôi rơi xuống mờ cả mắt lau không kịp. Bộ đồ trận lúc nào cũng đẫm ướt mồ hôi nhiều khi chẩy theo hai bắp chân xuống đôi giày đi rừng.

Đêm nằm trên chiếc poncho gấp đôi, mồ hôi vẫn còn đọng ướt cả lưng. Cứ như thế ngày này sang ngày khác, bộ đồ trận ướt rồi khô, bao nhiêu mùi hôi đều thấm sâu vào vải áo quần. May mắn lắm mới qua được một con suối còn lại chút nước, vội vàng múc cho đầy 2 bị đông nước, xong cùng nhảy xuống hụp cho ngập đầu rồi lại tiếp tục đi.

Ấy là những ngày không chạm địch, còn có thời gian ngồi xuống để thay một đôi vớ đã bốc mùi khó chịu. Những lần chạm địch thì coi như được phép quên đi những khó chịu hàng ngày, quên đi mình đã chưa ăn gì suốt một ngày qua, đã chưa uống một ngụm nước. Tàn cuộc thằng hay thua, lúc ấy mới biết mình còn đủ mồm miệng để ăn vội bọc cơm xấy. Còn các bạn tôi thật khỏe, ngồi trong buồng lái tha hồ tung hoành ngang dọc, hết phi vụ quay về phi trường, đi thẳng vào Câu Lạc. Bộ làm một ly cà phê đá, khỏe re trong lúc chờ cho các chuyên viên "check" tàu, tái trang bị bom đạn, "rocket" để chờ phi vụ tiếp theo.

Chưa nói đến vài ngày chúng tôi được xả hơi sau mỗi cuộc hành quân, cởi được bộ đồ hôi hám, thay vào một bộ quân phục mới để cùng xuống phố phường uống vài chai "33"cho đã bù lại những ngày phải uống nước sông nước suối. Nhưng nếu có xuống phố hay buổi tối tạt vào một tiệm nhảy nào lại đụng mấy bạn, và bao giờ chúng tôi cũng lép vế, lép về về đủ mọi phương diện. Đôi khi có một tí tình còm để an ủi những hễ chấm được cô nào vừa ý là y như rằng đã có một ông Không Quân nào sắp sửa rước đi rồi !!!

Nói cho vui vậy thôi chớ vội cho rằng chúng tôi đả kích các bạn nhé, thua thì thua rồi. Xưa còn trẻ đã không thắng các bạn, nay đầu đã bạc, chân mỏi gối mòn, hơi sức đâu mà ganh với đua . Trước khi nhắc lại những kỷ niệm đã qua, xin cho tôi nhắc lại một câu chuyện sau.
 

Vào tháng 1 năm 1975 khi Biệt Đoàn chúng tôi được lệnh tăng viện cho Tiểu Khu Phước Long, lúc này đang bị trên một sư đoàn địch vây hãm, các đơn vị địa phương hầu như đã tan hàng. Nói là Biệt Đoàn nhưng thật ra chỉ có 2 Biệt Đội 811, 814 và Bộ Chỉ Huy, tổng cộng khoảng 320 nguời. Không Đoàn 43 Chiến Thuật thuộc Sư Đoàn 3 Không Quân là đơn vị yểm trợ và đổ quân, dưới cơn mưa pháo 105 ly, 155 ly, hỏa tiễn 122 ly và súng cối, các phi đoàn trực thăng đã hoàn thành nhiệm vụ một cách phi thường với tổn thất không đáng kể.
Đích thân Chỉ Huy Trưởng của tôi, cựu Đ/Tá Phan Văn Huấn và Đ/Tá Triệu đã trực tiếp chỉ huy cuộc đổ quân. Nhìn từ trên trực thăng xuống thị xã Phước Long tôi nghĩ khó mà đáp được vì cả thị xã ngập trong khói lửa của đủ loại pháo chưa kể hỏa lực phòng không của địch tua tủa bắn lên đây trời với đủ loại từ đại liên 50,súng cá nhân, 23 ly và 37 ly. Tiếng đạn pháo nổ dưới đất cộng tiếng các loại phòng không nổ ngang trời nhắm vào các phi tuấn A-37 va F-5 đang cố thả những trái bom và bắn rocket yểm trợ cho cuộc đổ quân vang rền cả một vùng trời.
Tôi chỉ còn trông cậy vào tài bay bổng của các bạn đưa tôi an toàn xuống đất, chỉ cần chúng tôi đặt được chân xuống đất, dù chưa biết sau đó sẽ ra sao. Và thật như một phép lạ, cả hai lần đổ quân đều trót lọt, tất cả đều nhờ tài khôn ngoan của phi hành đoàn. Thay vì đáp ngay xuống thị xã, các phi hành đoàn của Không Đoàn 43 Chiến Thuật đã đáp xuống cạnh các khe suối cạnh thị xã, là những nơi khuất tầm quan sát của các tiền sát viên địch. Địch đã bố trí quanh khu vực Phước Long một trung đoàn phòng không với đủ mọi loại súng từ 12 ly 8 đến 23 ly và 37 ly. Tiền sát viên của địch ở khắp nơi, nhất là đỉnh núi Bà Rá đã bị địch chiếm mấy ngày trước. Biệt Đoàn I Chiến Thuật của tôi chỉ gồm có Bộ Chỉ Huy và 2 Biệt Đội (Biệt Đoàn -), không quá 300 người. Lực lượng trú phòng của Tiểu Khu Phước Long và các đơn vị tăng phái không còn bao nhiêu.
Tiểu Đoàn 7 thuộc Trung Đoàn 9 của Sư Đoàn 5 chỉ còn không quá 100, Đại Đội 5 Trinh Sát, Sư Đoàn 5 chỉ còn hơn 10 người đã dạt vào đơn vị tôi, Đại Đội Trinh Sát Sư Đoàn 18 Bộ Binh còn Đại Đội Trưởng và hơn một trung đội. Hai Tiểu Đoàn Địa Phuơng Quân đã tan hàng, quân nhân còn lại cũng lẫn lộn trong hàng rào phòng thủ của Biệt Đội 811 của tôi. Cộng chung lại không quá 500 tay súng để chọi lại với lực lượng địch trên 10 ngàn với đủ bộ xe pháo mã tốt. F-5 và A-37 vẫn yểm trợ tích cực nhưng với một hệ thống phòng không chằng chịt không thể xuống thấp để có thể đánh bom chính xác hơn. Từ dưới đất tôi thấy chỉ một chút sơ hở là những chiếc F-5 và A-37 kia sẽ vỡ tung, có một vài trái bom đã rơi vào vị trí bạn ...phải chấp nhận thôi Dù sao sự hiện diện của những chiếc phi cơ này cũng khiến dịch không dám điều động thiết giáp tiến sát đến vị trí chúng tôi. Dân và lính bỏ đơn vị tràn ngập vị trí chúng tôi khiến không thể nào kiểm soát được, tuy vậy chúng tôi vẫn đẩy lui được nhiều đợt xung phong của địch và đã hạ được 4 chiến xa địch. 
Vào lúc choạng vạng tối ngày 5 tháng 1 năm 1975, chiến xa địch và bộ binh tiến sát vị trí Bộ Chỉ Huy của tôi, sau đợt pháo 130 ly, 155 ly, 122 lý và 105 ly, chúng thả một toán đặc công vào 2 lô cốt trống , nhờ phát giác kip thời nên đã bị tiêu diệt ngay sau đó.
Suốt trong thời gian từ ngày 4 tháng 1 năm 1975 đến ngày 6 tháng 1 năm 1975, không lúc nào địch ngưng pháo vào vị trí chúng tôi, chúng mở nhiều đợt tấn công có chiến xa yểm trợ mong tiến sát vào vị trí chúng tôi. Sáng ngày 5 tháng 1 năm 1975, tôi đơn phương quyết định không cho C-130 thả dù tiếp tế nữa vì 1/2 khu vực thị xã đã rơi vào tay địch trước đó 2 ngày. Hầu như 9/10 những kiện hàng tiếp tế đều rơi vào tay địch, các phi vụ oanh kịch không hiệu quả, không còn pháo binh yểm trợ, không tiếp viện. Ở tại Quân Đoàn III, Trung Tướng Dư Quốc Đống từ chối lệnh thả phần còn lại của Liên Đoàn 81 BCND. Trong tình thế này, tôi buộc phải cho lệnh đơn vị rút khỏi Phước Long để bảo toàn đơn vị, tôi đã phải để lại hơn 60 xác đồng đội tại đây. Một điều đau đớn chưa bao giờ xảy ra trong lịch sử của đơn vị tôi. Tôi đã phải phân tán đơn vị tôi thành từng toán nhỏ, lợi dụng đêm tối, vượt qua hàng rào bao vây của địch để thoát ra ngoài. Phước Long thất thủ vào sáng ngày 6 tháng 1 năm 1975.
Trong lúc đơn vị tôi còn đang tìm cách vượt qua vòng vây của địch thì ngày 7 tháng 1 năm 1975 đã có một buổi họp cao cấp của Quân Đội, giống như tòa án quân sự, họ cố gán ghép việc thất thủ Phước Long là do lỗi của Không Đoàn 43 Chiến Thuật thuộc Sư Đoàn III Không Quân Biên Hòa. Thật là vô cùng phi lý nếu không nói là ngược ngạo. Trong khi các phi cơ của các Phi Đoàn Trực Thăng 221, 223, 231 237 ... phi cơ L-19 còn đang bay tìm kiếm và bốc các toán đã vượt qua được vòng vây địch thì tại hậu phương họ đang bị kết tội.
Trách nhiệm làm mất Phước Long nếu nói thuộc về tôi, người đã tự quyết định rút khỏi Phước Long, cao hơn là vì chỉ huy trực tiếp của tôi đã không buộc tôi phải hy sinh cả đơn vị để cố thủ một vị trí mà gần như đã hoàn toàn chiếm giữ bởi quân địch. Chúng tôi còn sống sót không trách cứ bất cứ cấp chỉ huy nào. Người lính chỉ biết tuân hành mệnh lệnh nhưng rõ ràng trách nhiệm làm mất Phước Long thuộc về người đã ra lệnh thả một đơn vị 300 người vào chỗ cầm chắc 90% để thua về một mục đích chính trị. Một ván bài tháu cáy, và đã thua, là khởi sự cho sự sụp đổ sau này.
Tôi đã ghi ở phần trước là giữa Không Quân và các anh em 81 BCND, ngoài tình huynh để chi binh, chúng tôi còn có một cái nghĩa "giang hồ". Trong buổi họp, Đ/Tá Huấn, Chỉ Huy Trưởng 81 BCND đã dũng cảm tuyên bố trước mặt các tướng lãnh:
"Mất Phước Long, lý do tại sao quý vị đều biết nhưng không ai nói ra. Phần Liên Đoàn 81 chúng tôi vào chỗ chết đã đành bởi nghề nghiệp chúng tôi là chọn chỗ chết để đi vào. Riêng các anh em Không Quân, các phi hành đoàn trực thăng đã làm quá bổn phận của họ, đã chết lây với chúng tôi, thật tội nghiệp. Nay đưa họ ra tòa, tôi cho là vô lý, nếu có lỗi làm mất Phước Long, tôi nhận lỗi. Xin quý vị tiếp tục họp và cho tôi biết kết quả, tôi xin phép ra về vì còn nhiều việc phải làm"
Mãi 2 ngày sau, tôi và Bộ Chỉ Huy mới thoát ra khỏi được vòng vây địch. Ban đêm di chuyển qua các bãi trống, tôi phát giác được nhiều chốt của địch đang bám giữ các bãi đáp này. Sáng cuối cùng chúng tôi tới được một nương sắn (khoai mì), đã thấy nhiều trực thăng đang bốc các toán lẻ cách thị xã khoảng 5 đến 10 cây số. Tôi không còn máy để liên lạc với họ vì chiếc mày truyền tin PRC-25 cuối cùng đã bị Hiệu Thính Viên của tôi đánh rớt xuống nước khi vượt qua sông vào buổi tối. Phương tiện liên lạc duy nhất là một mảnh kiếng nhỏ bằng 2 đầu ngón tay, tôi cũng không hy vọng được bốc ra. Ở tại Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn, mọi người đều nghĩ tôi đã tử trận hoặc bị bắt . Còn đang kiểm điểm xem còn lại bao nhiêu người trong BCH của tôi, bất chợt tôi nghe lùng bùng ở tai. Tôi biết đang có trực thăng bay rất thấp vì tiếng quạt gió làm rung chuyển lớp không khí còn ướt hơi sương, chỉ trong một khoảnh khắc ngắn chiếc chiếc trực thăng UH1 đã ở ngay phía trước. Anh em vội bẻ gẫy một số cây khoai mì, trong lúc đang ra dấu cho trực thẳng vào vị trí, tôi chợt nghe nhiều loạt súng cá nhân từ các đồi bên cạnh bắn qua, có lẫn cả tiếng nổ của đạn súng cối bắn vào vị trí quanh bãi đáp. Vì số cây khoai mì còn nhiều nên trực thăng chỉ lơ lửng trên đầu ngọn cây khoai mì, anh em tự nhảy lên bám vào càng leo lên rồi kéo người khác lên. Đạn bắn càng lúc càng gần, đốn gẫy các cây mì chung quanh.
Vì đạn địch bắn quá gần nên phi hành đoàn buộc phải cất cánh vội vàng. Tôi và Đ/Úy Thành, sĩ quan liên lạc Không Quân (ALO) phải nhảy lên mới bám được vào càng bên trái của chiếc trực thăng.
Khi anh em kéo tôi lên được trên sàn tàu, tôi phải xoay người lại nhờ anh em bám chặt hai chân, cúi xuống nắm lấy hai cổ tay của của Đ/Úy Thành và la lớn để anh thả hai tay ra thì tôi mới kéo anh lên được. Những Anh Thành vẫn không chịu buông tay ra và la lên "Cho tàu đáp xuống" ...khi chiếc trực thăng đã bốc lên cao khoảng 200 bộ , bỗng nhiên anh bỏ tay ra không báo trước nên tôi đã để vuột anh. Nhìn anh rơi xuống như một chiếc lá rụng, chiếc áo jacket da bò xòe ra như một cánh bướm mất hút với tiếng là thảm thiết của anh, tôi như người mất hồn...Cả phi hành đoàn đều cúi xuống nhìn anh rơi mà không màng đến hàng trăm viên đạn phòng không đang túa theo chiếc trực thăng đang nặng nề rời bãi .
Chiếc trực thăng duy nhất của Không Đoàn 43 đó Tr/Uy Sơn (Sơn Rỗ) lái đã phải cất cánh với 32 nguời kể cả phi hành đoàn, nó đã bị quá tải (overtorque), chỉ bay mà không đáp được nữa vì nếu đáp sẽ không còn có thể cất cánh được nữa.
Trong đời binh nghiệp của tôi từ khi còn là một toán trưởng thám sát cho đến khi trở thành một cấp chỉ huy cao hơn, chưa bao giờ tôi phải ân hận như thế, đã để rớt Đ/Úy Thành. Hình ảnh của anh còn mãi trong tôi như một cơn ác mộng luôn đè nặng lên tôi trong nhiều năm.
Có rất nhiều phi hành đoàn trực thăng đã chết lây theo chúng tôi. Vì là một đơn vị lấy phương tiện không vận và không yểm là con chủ bài, hầu hết các cuộc hành quân của Liên Đoàn 81 BCND đến nằm trong vùng địch và sau lưng địch, không nằm trong tầm pháo binh, có khi còn phải chuyển tiếp qua căn cứ tạm để tiếp nhiên liệu vì thời gian bay của trực thăng không đủ bảo đảm số thời gian bao vùng. Nếu nói một cách tàn nhẫn hơn thì dù 81 BCND chỉ là một đơn vị nhỏ nhưng đã làm thiệt hại rất nhiều phi cơ của cả hai phía Hoa Kỳ và Việt Nam. Tôi đã sống hết đời quân ngũ trong chỉ một đơn vị duy nhất, 12 năm khởi đầu bằng nghề Toán Trưởng, leo lên đến được BCH/ Biệt Đoàn, tôi đã chứng kiến được nhiều điều đau xót. Quên sao được khi lần đầu tiên bước chân lên chiếc H-34 nặng nề như một con voi của Phi Đoàn 215 Thần Tượng, nhớ những Anh Vui, Vinh, Khôi, Mành, Trắng, Hiếu ...Những con người hào hoa đã đưa chúng tôi vào những mặt trận "thắt cổ họng còn sướng hơn" như Bình Giả, Pleime, Đức Cơ, Đồng Xoài ...và đã đón chúng tôi trở về trong niềm vui gặp lại vợ con, bằng hữu. Quên sao những bạn bè như Trọng, Vỹ, Bảo, Dõng, Duyên và hàng trăm phi công trẻ của Không Đoàn 43 Chiến Thuật, những cánh bay mong manh L-19 thủng hàng chục lỗ đạn. Quên sao được những buổi hàng đoàn trực thăng đáp xuống sân căn cứ hành quân ở Suối Máu, Biên Hòa, phi hành đoàn ngồi chờ phi vụ với một khúc bánh mì, gói xôi đậu xanh mua vội ở Biên Hòa. Những con người đã từng đối đầu với gian nguy cùng với chúng tôi qua bao nhiều mặt trận mà cuộc sống vật chất không đủ để nuôi vợ con, nhưng vẫn cười vang mỗi lần gặp gỡ.
Chúng tôi đã không có đủ khả năng để đãi các bạn một bữa cơm trưa thanh đạm mà phải để các bạn bay về căn cứ, nuốt vội bữa cơm ở Câu Lạc Bộ, để rồi lại phải tiếp tục suốt buổi chiều, có khi trở về khi trời đã tối. Thế mà các bạn vẫn cười, không có một lời phiền hà. Chúng ta đã đã cùng chiến đấu để không vì miếng cơm manh áo của chính mình mà vì để bảo vệ miền Nam tự do, tránh được cái họa cộng sản.
Mỗi lần đi tham dự ngày họp mặt của các Quân Binh Chủng bạn, nhìn lại các chiến hữu xưa, nay đầu đã bạc trắng bỗng bùi ngùi nhớ lại thân phận mình. Nhớ tới tôi đã chưa một lần gửi lời cảm ơn các bạn, vì lòng nhiệt thành của các bạn, biết bao nhiêu lần chỉ vì để cứu một người lính 81 BCND trong vòng vây địch, để rồi lại phải hy sinh cả phi hành đoàn, chúng tôi đã phải chấp nhận những tổn thất về nhân mạng. Chúng ta khác kẻ thù, chúng ta quý nhân mạng hơn, dù chỉ là một người lính bình thường. Biết bao lần tôi chứng kiến những chiếc trực thăng bị nổ tung khi vừa vào bãi đáp, không một người sống sót. Sự tiếp cứu sau đó chỉ để mang về những xác người đã cháy đen!!! Còn gì buồn hơn khi thấy người phi công thoát ra khỏi chiếc A-37 bị bắn cháy, chiếc dù cứ trôi theo gió rồi rơi vào đất địch. Hãy cảm nhận nỗi đau khổ của anh em chúng tôi, những người tiếp cứu một phi công L-19 của Không Quân Việt Nam bị bắn cháy chỉ mang về một thi thể trần truồng. Địch đã xỉ nhục hay căm thù đến nỗi lột hết quần áo của một người đã chết thân thế không còn nguyên vẹn. Cái bản chất cầm thú của kẻ địch đã đối xử với một người đã chết còn như thế, thử hỏi đối với những chiến hữu của chúng ta rơi vào tay địch còn phải chịu đựng những khổ nhục như thế nào? Bao nhiêu chiến sĩ Không Quân đã hy sinh, bao nhiêu người đã rơi vào tay địch?
Hoàng hôn ngày 27 tháng 4 năm 1975, giữa khung trời còn âm u khói từ kho bom phi trường Biên Hòa bị nổ trước đó vài ngày, tôi đứng bên nầy hàng rào nhìn hàng chục chiếc trực thăng cất cánh rời bỏ phi trường. Thế là hết, ẩn ý như một lời vĩnh biệt...đó là lần cuối cùng tôi nhìn thấy những cánh chim ấy, những cánh chim đã cùng chúng tôi trải qua bao gian nguy.
Bây giờ những cánh bay ấy có thể đã nằm mục rã ở một vài bãi phế thải nào đó, hoặc năm sâu dưới đáy biển sau lần bay cuối cùng, hay may mắn hơn được nằm trong các viện bảo tàng chiến tranh. Nhưng những con người điều khiển chúng vẫn còn nhiều, lòng yêu nước và tinh thần dấn thân vẫn còn và mơ ước một ngày nào đó được bay trên vùng trời Tổ Quốc Việt Nam Tự Do .
Cuộc chiến tranh này chưa bao giờ chấm dứt, nó chỉ được thay đổi hình thức mà thôi ...



"Old soldiers never die; they just fade away."
General Douglas MacArthur


Vũ Xuân Thông
Liên Đoàn 81 BCND

Thứ Năm, 22 tháng 10, 2015

'Sống hạnh phúc, chết bình an' Tạp ghi Huy Phương - Nhân ngày tiễn đưa Tiễn Sĩ Alan Phan, 25 Tháng Mười Một, 2015)




'Sống hạnh phúc, chết bình an'
Tạp ghi Huy Phương
alt
Sau khi ông bác họ tôi chết được ít lâu, gia đình muốn lợp lại mái nhà. Khi người ta gỡ mái tranh cũ mang đi, họ tìm thấy ba lượng vàng được gói cẩn thận trong một miếng vải đỏ, nhét trong mái tranh. Người con trưởng, bỗng nhớ những giờ phút sắp ra đi của ông cụ thân sinh, lúc không còn cử động và nói năng được, nhưng đôi mắt ông cứ đăm đăm nhìn lên mái nhà, nơi mà ông giấu mấy lượng vàng.
Tôi cũng nhớ lại, sau năm 1975, hồi đi tù Cộng Sản, ngày được lệnh đổi tiền, nhiều anh sĩ quan đang bị tập trung, đã xin phép quản giáo cho về nhà, vì những người này lỡ giấu tiền trong bộ salon ở phòng khách hay ở một góc hẻm nào trong nhà, mà không cho vợ biết, và cứ nghĩ rằng mình đi tù một hai tuần rồi sẽ được về nhà.
Đến tuổi này rồi, bạn có giấu của cải, tiền bạc ở chỗ nào, con rơi con rớt ở đâu, xin “thành thật khai báo” kẻo không còn kịp nữa.
Quả tình là không ai biết mình sẽ giã từ cuộc đời này vào lúc nào, kể cả những bệnh nhân ung thư đến thời kỳ cuối, đã được bác sĩ thông báo ngày chết. Mới vài ngày trước đây thôi, người bạn trẻ của tôi đang khỏe mạnh, nói nói cười cười, thế mà hôm nay, qua một cuộc phẫu thuật tim, thông thường sau vài ba tiếng đồng hồ sẽ tỉnh lại, anh đã không bao giờ mở mắt ra để nhìn cuộc đời này nữa. Cũng trong lúc này tôi có những người bạn nằm trong “nursing home” đã trên 10 năm dài, có người phải dùng thức ăn lỏng bơm thẳng vào dạ dày, có người đôi mắt đã hư, chỉ còn nhận ra người quen qua tiếng nói.
Nghĩ cho cùng, cái chết là tất yếu, nhưng ai biết được bao giờ mình sẽ chết? Và cũng vì không ai biết trước được ngày mình chết, nên mỗi người đều đi tìm cho mình một cách sống.
Ví như loài người trên trái đất này đến tuổi 60 tất cả đều phải chết, thì không còn ai phải sửa soạn hay dành dụm cho mình để lo cho những ngày chưa chết. Chính vì cái điều mà người ta thường gọi là số mệnh, cuộc sống lâu mau của mỗi người đã làm nên, mỗi người một hoàn cảnh, không ai giống ai. Khoa tử vi cũng không giải thích được cuộc đời của hai người song sinh, cùng cha mẹ, chào đời trong một giờ, một ngày, một năm, một tháng giống nhau.
Có ai bỏ lại được mọi sự lo lắng lại cho cuộc đời này để thanh thản ra đi.
Phải chăng vì sự lo, sợ cung tần mỹ nữ sẽ không trung thành với mình hay ích kỷ muốn mang theo những vật sở hữu của mình, mà vua Khang Hy (1654-1722) đã “chôn theo” mình toàn bộ 48 phi tần của ông.
Có người chết đi, “yêu mình” đến nỗi lo sợ sự nghiệp của mình không ai nhớ đến, nên lo đúc tượng mình khi còn sống. Nhà thơ Hàn Mặc Tử lãng mạn than khóc vì cuộc đời vốn đã bất hạnh của mình, sợ rồi khi mình nằm xuống, “không có nàng tiên mô đến khóc, đến hôn anh và rửa vết thương tâm!”
Nguyễn Du cũng ngậm ngùi “bất tri tam bách dư niên hậu, thiện hạ hà nhân khấp Tố Như?”
Làm chính trị cũng lo lắng chuyện dở dang, bất thành: -“Tôi chết thì trả thù cho tôi!”
Nhà văn Võ Phiến trước khi qua đời cũng băn khoăn: - “Anh nghĩ ở trong nước bây giờ người ta có đọc tôi không, hả anh?” (Nguyễn Hưng Quốc, 1 Tháng Mười, 2015)
Thì ra, trước khi qua đời, ai cũng có cái lo, mỗi người lo một cách.
Chết rồi, có người chẳng muốn thiêu vì sợ nóng, nhưng cũng có người không muốn chôn, vì nằm đó, mà chẳng có đứa con nào viếng thăm, “thì buồn chết được!” Chết thì hẳn đã chết rồi, mà người chết rồi làm sao biết buồn nữa! Có người đã lớn tuổi, đau ốm quanh năm, muốn về Việt Nam thăm bà con một chuyến, nhưng bắt các con hứa, nếu lỡ có mệnh hệ nào, thì các con nhớ mang cha trở lại Mỹ. Có người ở tù Cộng Sản năm bảy năm, sang được Mỹ, bây giờ chết lại đòi mang quan tài về Việt Nam. Như vậy, chết vẫn chưa là hết, chết cũng còn nằm trong kế hoạch, chương trình, sau khi nắp quan tài được đậy lại.
Có những cái chết mang lại thương tiếc cho tất cả mọi người, có những tấm lòng và công việc của những người chết mà không ai có, không ai thay thế được, nhưng trái lại, có những người sống lâu, bị người đời nguyền rủa. Trong những cái “chẳng khoái ư!” của ông Lâm Ngữ Đường, tác giả kể chuyện ông Kim Thánh Thán, sáng sớm thức giấc, nghe đêm qua con người giảo quyệt, mưu mô nhất trong làng vừa chết, ông bèn “chẳng khoái ư?” Thoạt đầu, tôi trộm nghĩ, đã là con người với nhau, thằng xảo quyệt ấy chết, mình không buồn thì cũng dửng dưng, có đâu lòng dạ lại cảm thấy sung sướng được, như thế chẳng hóa ra bất nhân! Nhưng nghĩ lại, nếu mình không là nạn nhân, không là người chịu đựng những nỗi khổ đau trầm luân của người trong cuộc, thì không thể thông cảm với cái “vui” khi thấy người khác chết! Một con người hay một chế độ cũng vậy!
Sống bao lâu là đủ, chết lúc nào là vừa?
Phải chăng câu trả lời còn tùy theo sự sống của mỗi người.
Lợi ích của cây đa, cây đề là còn cho con người bóng mát, chứ không phải là nơi người ta gửi những cái ông bình vôi sứt mẻ để tạo ra một hình ảnh tôn kính quá đáng. Chúng ta chọn hình ảnh người tướng lãnh chết giữa trận tiền hay sống tàn tạ, chết già nua trong sự quên lãng của mọi người. Đối với một người lính, chúng ta chọn giữa cái chết hay sự sống dần dần phai nhạt?
Chưa có ai từ cõi chết trở lại cõi sống để mô tả cho con người biết cái chết, cũng không có bằng chứng khoa học về ý thức sự sống sau cái chết của một sinh vật, nhưng hầu hết tôn giáo đều cho rằng nếu chúng ta hình dung cái chết như là một sự biến mất, một sự chấm dứt, không còn lưu lại gì cả thì nhất định đó là một sự sai lầm.
Nhưng có một điều chúng ta ai cũng phải nghĩ đến là có sinh thì có diệt, có sống tất phải có cái chết!
“Chẳng ai sống đời đời, kiếp kiếp, chẳng cái gì vĩnh viễn không phai. Này, anh em nhớ kỹ điều đó và vui lên mà sống...” “Thi nhân, riêng mình, nào phải viết bài thơ trường cửu. Hoa nở rồi tàn. Và, ai đó đã cài hoa lên áo, cũng chẳng cần khóc thương mãi mãi làm gì. Đấy, anh em, nhớ kỹ điều đó, và vui lên mà sống.” (Rabindranath Tagore - Đỗ Khánh Hoan dịch)
Alan Phan là một doanh nhân nổi tiếng, từng tổ chức và hoàn tất chuyển giao 18,000 xe lăn tại Việt Nam và Indonesia, vừa qua đời, tạm khép lại giấc mơ ông đang ấp ủ cho quê nhà: “20 triệu máy tính cho trẻ em Việt Nam.” Tuy vậy, chỉ ba tháng trước khi ra đi, cảm nhận được những bất trắc của cuộc đời, Alan Phan đã bình thản nhận mình “rất bình an với những gì mình đã có, đã mất, đã thua, đã thắng, nghĩa là cái chuyện nó đã xảy ra rồi, thế thôi.”
Trên mọi sự, ông đã không những “forget” mà còn “forgive!”
(Nhân ngày tiễn đưa Tiễn Sĩ Alan Phan, 25 Tháng Mười Một, 2015)

Đốt sách ... rồi bây giờ đấu giá sách



Sock Monkeys
Phép trị quốc của CSVN: 
Đốt sách ... rồi bây giờ đấu giá sách


Có khoảng 180 chục triệu cuốn sách đủ loại ở miền Nam nằm trong vùng định chế sách bị tiêu hủy, vẫn có một số sách không nhỏ trên thoát nạn do sự cất dấu của những người có lòng với văn học và do cả óc trục lợi của một số người. Dù cho có trục lợi đi nữa thì cũng vẫn là một điều đáng làm vì gián tiếp giúp cho sinh mệnh chữ nghĩa miền Nam vẫn có cơ hội sống lại.


                                      Một cảnh đốt sách thật tang thương tháng 05/1975 ở Sài Gòn

Chính trong cái khung cảnh sinh hoạt sách báo miền Nam bị vây khốn khó khăn như thế đã làm nảy ra một nghề mới: Nghề bán sách dạo, sách bán ở vỉa hè. Nghề này từ nay thay thế công việc của ông Khai Trí cũng như cho khoảng 2500 nhà sách trên toàn miền Nam đã phải tự động đóng cửa sau 1975. Nó tiêu biểu cho nghề buôn bán chui dưới chế độ xã hội chủ nghĩa. Xã hội tạo ra một lớp người làm ăn bất hợp pháp. Cái gì cũng thành chui cả. Sách chui, gạo chui, thuốc tây chui, đi chui và ngay cả việc đi tu cũng trở thành tu chui. Sách càng bị cấm, càng nhiều người tìm đọc.


Có lẽ người có lòng nhất với sách vở miền Nam là ông Khai Trí. Từ người bán sách lẻ lề dường, ông xây dựng nên cơ nghiệp là nhà sách Khai Trí, số 60- 62 đường Lê Lợi. Tôi đã đứng bên kia đường Lê Lợi sau 1975 để chứng kiến cảnh hôi sách, đốt sách của nhà Khai Trí. Cảnh tượng ấy còn như in vào đầu tôi. Sách của nhà Khai Trí vứt tung tóe, bừa bãi trên mặt đường phố Lê Lợi trong nỗi bất lực của nhiểu người miền nam cách đây 40 năm.
Tôi không biết lúc bấy giờ ông Khai Trí đứng ở đâu... Nhưng cái cảnh ấy nó bộc lộ hết cái bản chất bạo tàn của những kẻ chiến thắng.

Chợ trời sách miền nam trên đường Đặng Thị Nhu Q1 năm 1979

Khi cơ sở nhà sách Khai Trí bị tịch thâu. Theo nhà văn Nhật Tiến, một lần nữa, ông Khai Trí lại ra ngồi lề đường, trải một tấm nhựa ni lông bán vài cuốn sách thiếu nhi còn sót lại. Đây lại là một hoạt cảnh đau lòng và ngược đời bầy ra trước mắt. Từ một chủ nhân bề thế, uy tín mà trong kho chứa hàng triệu cuốn sách, nay ông trở thành người bán sách dạo đầu đường.
Cảnh tượng này giúp ta nhớ lại như hoạt cảnh đấu tố trong Cải cách ruộng đất.
(Trích: "Hiện trạng văn học miền Nam sau 1975 ở miền Nam..." của Nguyễn Văn Lục.)

SAIGON 1979 - Chợ sách cũ đường Đặng Thị Nhu

Sau năm 1975, Đặng Thị Nhu là một con đường sách nổi tiếng mà dân mê sách, các nhà văn, nhà văn hóa Hà Nội, Sài Gòn không thể không biết.
Chỉ là một con đường nhỏ dài chừng 200m, nối liền hai đường Ký Con và Calmette là những sạp chứa đầy sách, đối diện nhau qua một lối đi bộ...

Cũng nhờ chợ sách này mà nhiều tác phẩm xuất bản trước 1975 của miền Nam được lưu truyền , gìn giữ . Có những gia đình cất dấu nhiều sách quý , nhưng sau đó đứt ruột chia tay với sách vì sinh kế . Mua bán sách cũ cũng giúp bao gia đình thoát được cái đói . Cảnh đó chỉ có những người ko may mắn kẹt lại SG sau 75 mới thấu hiểu !

...Rồi bây giờ đấu giá sách


Bây giờ nó mới biết là nó đã hủy hoại nguyên một kho tàng rất quý báu của Việt Nam nói chung.
Chê bai chửi rủa VNCH cho lắm rồi dốc túi mua sách thời VNCH như của quý hiếm !Trong cái buổi gọi là " đấu giá sách quý hiếm " đó hầu hết các quyển sách đắt giá nhất đều được viết bởi người VNCH , xuát bản bởi VNCH hoặc lưu hành rộng rãi thời VNCH . Chửi VNCH là Ngụy , chửi cờ vàng là bán nước , tìm mọi cách trù dập , tiêu diệt người VNCH , những muốn xóa bỏ toàn bộ văn hóa của người VNCH ...


Bây giờ quay ra mê nhạc vàng , mê sách của VNCH ! Những thứ mà CSVN 1 thời lên án là văn hóa đồi trụy hoặc văn hóa ngoại lai , bán nước , và bị cấm hết !Kệch cỡm chưa ?Nếu 1975 " giải phóng " miền Nam mà CSVN không đem toàn bộ sách vở của VNCH ra đốt thì bây giờ còn khối sách quý hiếm để đem ra bán đấu giá mà làm giàu nhỉ ?Sao không thấy cuốn sách nào của Các Mác, Lenin , hay thậm chí của cha già kính yêu nằm trong danh sách những cuốn sách quý hiếm được con cháu CS ngày nay bỏ tiền chục triệu ra mua vậy ? Hay sách của CS thì chỉ đáng đem gói hàng hay nhóm bếp thôi ?


Phiên đấu giá sách quý hiếm hấp dẫn 20/09/2015 

TTO - Sự xuất hiện của GS Ngô Bảo Châu và doanh nhân Nguyễn Thanh Phượng đã làm cho phiên đấu giá sách quý hiếm do Nhã Nam tổ chức sáng 20-9 tại TP.HCM thêm hào hứng.

15 đầu ấn phẩm đưa ra đấu giá lần này là một phần của chương trình Chợ phiên sách cũ kéo dài trong ba ngày từ 18 đến 20-9.
Các ấn phẩm có mức giá khởi điểm dao động từ 20.000 đồng đến 5 triệu đồng, hứa hẹn mức độ tham gia của các tay chơi sách và giới quan tâm, hâm mộ sẽ rất đa dạng, sinh động.Với bước giá cho mỗi lượt đấu là 10.000 đồng, MC phiên đấu giá Tuyết Anh đã nỗ lực giới thiệu các ấn phẩm, kêu gọi khuyến khích và cả… khích động mọi người có mặt tại Nhã Nam thư quán cùng tham gia bỏ giá đấu.

Cuộc đấu diễn ra được nửa đường thì bất ngờ giáo sư Ngô Bảo Châu và doanh nhân Nguyễn Thanh Phượng cùng đến tham gia đấu giá.
Lúc này sàn đấu đang vào lượt bỏ giá cho quyển Bác sĩ Ai-Bô-Lít - quyển truyện nổi tiếng của Coóc nây Tru-cốp-xki, NXB Cầu Vồng 1984, từng quen thuộc với nhiều thế hệ thiếu nhi Việt Nam. Quyển này giá khởi điểm 50.000 đồng, người tham gia đấu đầu tiên là Dạ Thương - chủ tiệm sách Book Nest - nâng giá lên 100.000 đồng.

MC Tuyết Anh đang giới thiệu quyển Nói với tuổi hai mươi

Có lẽ quyển sách thiếu nhi này gợi lên những ký ức tuổi thơ của mình nên bà Thanh Phượng đã tham gia bỏ giá đấu quyết liệt và đấu thắng ở mức giá 1 triệu đồng.Sau đó đến lượt đấu giá quyển Việt Nam văn hóa sử cương của Đào Duy Anh do NXB Bốn Phương (của thi sĩ Đông Hồ thành lập) ấn hành năm 1951, sách được bảo quản rất tốt, còn bìa và jacket.
Quyển sách này vốn quan trọng và được các thế hệ trí thức nước nhà đánh giá rất cao, cộng với chất lượng một bản sách có tuổi đời hơn nửa thế kỷ nhưng còn gần như mới nguyên đã quyến rũ GS Ngô Bảo Châu nâng giá từ mức khởi điểm 150.000 đồng lên 1 triệu đồng, rồi 1,5 triệu đồng.
Lúc này chỉ còn chủ tiệm sách Dạ Thương đeo bám đấu nhích từng bước: 1.610.000 đồng, 1.620.000 đồng… Tuy nhiên, GS Ngô Bảo Châu kiên quyết theo đuổi, nâng giá lên 2 triệu đồng.

GS Ngô Bảo Châu đưa tay bỏ giá đấu quyển Việt Nam văn hóa sử cương.

Cử tọa cuộc đấu vỗ tay vang lên khi GS Ngô Bảo Châu nâng mức giá lên 2,5 triệu đồng và đấu thắng.Có lẽ mọi người cũng cảm nhận được dư vị hấp dẫn của lượt đấu này khi quyển sách sử - văn hóa Việt Nam văn hóa sử cương bản in 1951 thuộc về GS toán học đang rất nổi tiếng ở Việt Nam.
Tiếp theo là một ấn phẩm “nặng ký” và là điểm nhấn của cuộc đấu giá: quyển Cochinchine (Nam Kỳ) do Phủ toàn quyền Đông Dương thực hiện, NXB Gastaldy in tại Sài Gòn năm 1931.
Đây là quyển sách thuộc bộ sưu tập của nhà báo Hà Văn Bảy, xuất bản nhân cuộc triển lãm thuộc địa tại Paris năm 1931.
Điều đáng quý là quyển này được bảo quản tốt, còn đầy đủ các bản đồ in kèm, và nhiều hình ảnh về cảnh sinh hoạt, kiến trúc xây dựng của Đông Dương xưa…
Sách được khởi đấu ở mức giá 5 triệu đồng. Doanh nhân Nguyễn Thanh Phượng trao đổi cùng GS Ngô Bảo Châu và nhóm bạn đã quyết định tham gia đấu giá.
Lượt đấu kịch tính vì kéo dài qua các bước: 5.060.000 đồng - 5.500.000 đồng, 5.600.000 đồng với hai "đối thủ" tham gia là ông Dương Thanh Hoài - phó giám đốc Nhã Nam - và bà Thanh Phượng.
Ông Hoài cho biết hiện Nhã Nam chưa có quyển này và muốn đấu thắng để lưu 1 bản Cochinchine, nhất là quyển này chất lượng rất tốt.

Nhưng khi bà Phượng nâng giá lên mức 10 triệu đồng thì ông Hoài đứng lên tuyên bố nhường.
Mọi người cùng vỗ tay chúc mừng quyển sách của người Pháp in từ năm 1931 tại Sài Gòn thuộc về một doanh nhân Việt Nam sau 84 năm thông qua phiên đấu giá cũng tổ chức tại Sài Gòn.

MC Tuyết Anh đang giới thiệu quyển La musique et le monde

Trước đó, một quyển sách khác cũng trong bộ sưu tập của Hà Văn Bảy là quyển tiếng Pháp La musique et le monde - tác giả GS Trần Văn Khê, có thủ bút của ông ghi trên sách khởi điểm 1 triệu đồng, đã được một nhà sưu tập tại TP.HCM đấu thắng ở mức 2,1 triệu đồng.Bên cạnh đó, phiên đấu giá lần này còn có 1 quyển thơ của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh được đánh giá là ấn phẩm hiếm gặp: Đầu xuân ra sông giặt áo, NXB Văn Nghệ ấn hành năm 1986, giá khởi điểm 50.000 đồng và đã đấu thắng ở mức 300.000 đồng.Có mặt tại buổi đấu giá, nhà báo Lê Văn Nghĩa biểu lộ sự đồng tình với mục đích sử dụng số tiền đấu được cho quỹ sách nói phục vụ người mù TP.HCM.
Ông Nghĩa cho biết hiện trong bộ sưu tập của ông có một số bản quý hiếm, có thể lần tới ông cũng sẽ tham gia đưa sách ra đấu để gây quỹ từ thiện.

Giới sưu tập Sài Gòn cũng đánh giá cao những phiên đấu giá như thế này, “cho thấy những ấn phẩm có giá trị vượt thời gian và mức độ quan tâm của người đương thời với những quyển sách trong quá khứ” - một nhà sưu tập nhận xét.Sau khi trừ giá khởi điểm cho chủ sách, tổng cộng phiên đấu giá sáng 20-9 tại Nhã Nam thư quán đã thu được 15.130.000 đồng. Ban tổ chức đã chuyển số tiền này cho chị Hướng Dương - giám đốc Thư viện sách nói dành cho người khiếm thị.

15 ấn phẩm và giá đấu thắng:

Tờ nhạc Mùa thu cho em, tác giả Ngô Thụy Miên: 100.000 đồng
Sách Việt Nam phong tục, tác giả Phan Kế Bính, 1975: 270.000 đồng
Sách Nói với tuổi hai mươi, tác giả Thích Nhất Hạnh, 1973: 260.000 đồng
Tri Tân tạp chí số 98, năm 1943: 300.000 đồng
Tờ nhạc Thà làm giọt mưa, tác giả Phạm Duy: 150.000 đồng
Tờ nhạc Chuyện hẹn hò, tác giả: Trần Thiện Thanh: 100.000 đồng
Sách La musique et le monde, tác giả Trần Văn Khê, 1995: 2.100.000 đồng
Món ngon Hà Nội, tác giả Vũ Bằng, 2014: 300.000 đồng
Bác sĩ Ai-Bô-Lít, 1984: 1.000.000 đồng
Tờ nhạc Diễm xưa, tác giả Trịnh Công Sơn: 150.000 đồng
Đầu xuân ra sông giặt áo, tác giả Nguyễn Nhật Ánh, 1986: 300.000 đồng
Việt Nam văn hóa sử cương, tác giả Đào Duy Anh, 1951: 2.500.000 đồng
Cochinchine, Phủ toàn quyền Đông Dương thực hiện, 1931: 10.000.000 đồng
Vang bóng một thời, tác giả Nguyễn Tuân, 1963: 800.000 đồng
Kiều, Nguyễn Văn Vĩnh dịch ra tiếng Pháp, in song ngữ 1951: 2.800.000 đồng.
Lam Điền